CTXH CÁ NHÂN. CTXH NHÓM CTXH THƯC HÀNH

Trích dịch từ: L.S. De GUZMAN WORKING WITH INDIVIDUALS - The CASE WORK PROCESS (Làm việc với cá nhân - Tiến trình CTXH cá nhân) NASWE Manila 1992.
  CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN  


1. Sự phát triển của CTXH cá nhân (CTXHCN)

 

CTXHCN là phương pháp can thiệp đầu tiên của ngành được xây dựng một cách khoa học. Phương pháp này bắt đầu từ cuối những năm 1800 với các tổ chức Từ Thiện (Charity Organizations) Mỹ. Các tổ chức này tuyển dụng những nhà thăm viếng hữu nghị (friendly visitors) để giúp đỡ người nghèo. Họ tới thăm từng người tìm hiểu cặn kẽ những người cần sự giúp đỡ cho những lời khuyên và giúp đỡ tài chánh. Dịch vụ chủ yếu mà họ cùng cấp là tham vấn.

 

Thời gian sau những khám phá của các nhân viên này cho thấy rằng nguyên nhân khó khăn không chỉ xuất phát từ một khiếm khuyết của nhân cách mà từ các điều kiện xã hội trong đó thân chủ sinh sống. Họ kết luận rằng môi trường có một ảnh hưởng rất lớn đối với cá nhân. Từ đó các tổ chức Từ Thiện nói trên quyết định thực hiện cải cách xã hội để cải thiện các điều kiện vật chất và xã hội của người lao động nghèo. Họ đã thành công ở nhiều khía cạnh tuy nhiên mặc dù có những cải thiện nhiều gia đình tiếp tục sống trong nghèo khổ và bần cùng. Từ đó họ quyết định rằng các "nhà thăm viếng hữu nghị" phải làm việc gầân gũi hơn nữa với từng cá nhân và gia đình trên cơ sở trực tiếp với từng trường hợp một.

 

Một trong các khám phá của giai đoạn này là sự phục hồi của thân chủ không thể thực hiện chỉ bằng tham vấn. Sự giúp đỡ tài chánh cũng cần thiết cho gia đình thân chủ trong giai đoạn thích ứng tái huấn luyện và phục hồi. Từ đó các cơ sở xã hội giúp đỡ tài chánh kèm theo tham vấn.

 

Đầu những năm 1900 Mary Richmond và các nhà tiên phong khác về CTXH cá nhân xây dựng một cách tiếp cận khoa học hơn để giúp đỡ thân chủ. Bà hình dung CTXHCN như một tổng thể gồm 3 mặt: nghiên cứu xã hội chẩn đoán trị liệu. Ngày nay tổng thể 3 mặt này gồm 7 bước: nhận diện vấn đề thu thập dữ kiện thẩm định chẩn đoán kế hoạch trị liệu trị liệu lượng giá và tiếp tục hay chấm dứt. Từ đó CTXHCN tiếp tục phát triển. Những năm đầu CTXHCN chịu sự ảnh hưởng của mối quan tâm đến các điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng hoàn cảnh của thân chủ. Kế đó dưới ảnh hưởng của những khám phá của Signumd Freud và môn đồ của ông ta các NVXH xem xét kỹ càng hơn khía cạnh tình cảm và tâm lý xã hội trong vấn đề của các nhân thân chủ. Các bịnh viện đa khoa bắt đầu tuyển dụng NVXH để tìm hiểu điều kiện gia đình và sinh sống của bịnh nhân nhằm mục đích chữa trị về y khoa.

 

Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng ảnh hưởng đến CTXH cá nhân. NVXH bắt đầu làm việc gần gũi với các cựu chiến binh và gia đình họ. Theo kết quả quan sát và kinh nghiệm họ đem cách giải thích về tâm lý và tâm thần học để thay thế các lý giải may tính xã hội học. Họ bắt đầu điều chỉnh phương pháp làm việc với những con người có nhu cầu. Một số nguyên tắc hướng dẫn và tiền đề về giá trị hình thành trong giai đoạn này.

 

Thế chiến thứ hai cũng ảnh hưởng đến sự thực hành CTXHCN. Người ta quan sát thấy song song với khó khăn vật chất những khó khăn về nhân cách ngày càng gia tăng. Từ đó NHXH xem xét lại tính chất các dịch vụ mà họ cung ứng cho các cá nhân có vấn đề về nhân cách. Tham vấn được tăng cường và nới rộng để bao gồm gia đình của thân chủ. Càng ngày người ta cũng nhận thấy về ảnh hưởng của văn hóa đối với hành vi của thân chủ. Các NVXH trong lãnh vực y tế và tâm thần ngày càng được tìm tới.

 

Ngày nay với nhiều ảnh hưởng khác nhau xoay quanh cá nhân trọng tâm của sự can thiệp không chỉ còn là cá nhân mà "cá nhân trong tình huống" đây là sự công nhận mối tương tác giữa cá nhân và môi trường...  


CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
  


CTXH nhóm là phương pháp CTXH nhằm giúp tăng cường củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân có nghĩa là :

 

    -   ứng dụng những kiến thức kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc   năng động nhóm)

 

  -   nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề

 

  -   các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân nhóm cộng đồng) thay đổi hành vi thái độ niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu.

 

Thí dụ : - Nhóm trẻ đá banh của lớp học tình thương (Nguyên Hương)

 

  - Nhóm của 3 người bộ hành kết hợp để đẩy tảng đá bên dường.

 

2.Các mục tiêu của CTXH nhóm  :

   -  Đánh giá (thẩm định) cá nhân : về nhu cầu/khả năng/hành vi qua  việc tự đánh giá của nhóm viên đanh giá cùa tác viên (NVXH) đánh giá của bạn bè trong nhóm (nhóm trẻ em/người lớn phạm pháp nhóm cha mẹ nuôi trẻ em đường phố)

 

   -  Duy trì và hỗ trợ cá nhân : hỗ trợ cá nhân đương đầu với những khó khăn của cá nhân hay khó khăn trước hoàn cảnh xã hội (nhóm người khuyết tật nhóm phụ huynh khuỵết tật)

 

   -  Thay đổi cá nhân : nhiều loại từ  hành vi cho đến phát triển nhân cách : kiểm soát xã hội (nhóm vi phạm luật pháp nhằm tránh tái phạm trong tương lai;  xã hội hoá

 

  ( nhóm trẻ trong cơ sở tập trung học tập kỹ năng xã hội để sống tại cộng đồng) hành vi tương tác (nhóm huấn luyện để tự khẳng định); giá trị và thái độ cá nhân (nhóm sử dụng ma túy nhằm tác động đế giá trị và thái độ của họ; hoàn cảnh kinh tế (nhóm người thất nghiệp với mục đích tìm việc làm) cảm xúc và khái niệm về bản thân (nhóm phát triển lòng tự trọng tăng năng lực); phát triển nhân cách (nhóm T group).

 

   -  Cung cấp thông tin giáo dục (nhóm giáo dục sức khỏe nhóm kỹ năng làm cha mẹ nhóm tình nguyện viên).

 

   -  Giải trí ( vui chơi để đền bù sự mất mát trong cuộc sống )

 

   -  Môi trường trung gian giữa cá nhân và hệ thống xã hội : nhóm bệnh nhân và bệnh viện

 

   -  Thay đổi nhóm và/ hoặc hỗ trợ : nhóm gia đình -cải thiện vấn đề truyền thông nhóm trẻ phạm pháp-hướng hành vi tiêu cực sang những họat động tích cực.

 

   -  Thay đổi môi trường : phát triển cộng đồng - nhóm ở cơ sở cải thiện chất lượng cuộc sống nhóm đòi hỏi phương tiện cho con em phụ huynh lao động ...

 

   -  Thay đổi xã hội : Tăng nhận thức của cá nhân và tái phân phối quyền lực (nhóm chính quyền địa phương)

 

3. Các đặc điểm của công tác xã hội với nhóm :

  -  Hoạt động nhóm là nơi thoả mãn nhu cầu của cá nhân

 

  -  Đối tượng tác động là mối quan hệ tương tác trong nhóm

 

  -  Nhóm tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề

 

  - Ảnh hưởng nhón giúp thay đổi hành vi thái độ của cá nhân

 

  -  Nhóm là mội trường bộc lộ.

 

  -  Các yếu tố cần quan tâm trong CTXH nhóm : 7 yếu tố

 

  * Đối tượng là ai

 

  * Nơi sinh hoạt bối cảnh sinh hoạt

 

  * Nhu cầu gì cần được đáp ứng

 

  * Mục tiêu cần đạt được

 

  * Giá trị : sinh hoạt nhóm dựa trên quan điểm gì

 

  * Lý thuyết: sử dụng lý thuyết nào

 

  * Phương cách thực hành ; cơ cấu vai trò trách nhiệm mối quan hệ  bên trong và bên ngoài nhóm các hoạt động nào được sử dụng cách thức tổ chức ...

 

4. Các loại hình công tác xã hội với nhóm:
 

   - Nhóm giải trí : rèn luyện và phát triển nhân cách

 

   - Nhóm giáo dục : Kiến thức và kỹ năng

 

   - Nhóm tự  giúp

 

   - Nhóm với mục đích xã hội hóa

 

   - Nhóm trị liệu

 

   - Nhóm trợ giúp

 

5. Các qui điều đạo đức trong công tác xã hội nhóm

6. Những thuận lợi và bất lợi trong trị liệu thông qua nhóm
 

   6.1 Những thuận lợi :
 

*  Giúp những kinh nghiệm xã hội

 

*  Là nguồn hỗ trợ lẫn nhau và giải quyết vấn đề

 

*  Có thể thay đổi thái độ cảm xúc hành vi trong bối cảnh nhóm do tương tác xã hội bao gồm làm mẫu các vai trò củng cố phản hồi (cửa sổ Johari)

 

*  Mỗi thành viên trong nhóm là một người có tiềm năng giúp đỡ. Vai trò của NVXH và thân chủ ít phân biệt được trong nhóm vì sự giúp đỡ và chia sẻ lãnh đạo giữa các thành viên trong nhóm và nhân viên xã hội cũng là một thành viên.

 

*  Nhóm có thể dân chủ và tự quyết cung cấp nhiều quyền lực hơn cho thân chủ

 

*  Nhóm thích hợp cho các đối tượng thụ hưởng dịch vụ.

 

*  Nhóm  có thể tiết kiệm thời gian và năng lực của nhân viên xã hội

 

  6.2 Những bất lợi :
 

*  Việc bảo mật khó duy trì trong CTXH nhóm hơn là trong CTXH cá nhân.

 

*  Nhóm được thành lập có khó khăn để hoạch định tổ chức và thực hiện. Công việc chuan bị cho loại nhóm nầy là quan trọng có nhiều khó khăn cản trở phải khắc phục ở cấp độ nhóm viên đồng nghiệp và cơ quan.

 

*  Nhóm cần nhiều tài nguyên : NVXH có thể phải thương lượng để có những tiện nghi quỹ trang thiết bị di chuyển...

 

*  Cá nhân ít được quan tâm riêng trong nhóm. Một số cá nhân ít nhất là ở vào giai đoạn phát triển nào đó không thể ứng phó với việc chia sẻ cạnh tranh trong bối cảnh nhóm họ cần một sự quan tâm đặc biệt của một mối quan hệ cá nhân. Trong nhóm họ có thể disruptive thụ động tổn thương hay là vật tế thần. Đoi khi một thời gian công tác với cá nhân có thể chuẩn bị tốt cho sự tham gia nhóm.

 

*  Cá nhân dễ bị "dán nhãn" hơn. Thí dụ nhóm phụ huynh đơn thân nhóm trẻ trốn học nhóm nghiện rượu...

 

*  Nhóm có thể nguy hiểm đối với một thiểu số nhỏ. Nhóm và nghười hướng dẫn nhóm có thể tấn công một cá nhân từ chối cá nhân. Lãnh đạo nhóm như thế nào sẽ giảm thiểu được nguy cơ nầy. (liên quan đến kỹ năng lãnh đạo nhóm).   CÔNG TÁC XÃ HỘI THỰC HÀNH

  Công tác xã hội thực hành chú trọng đến :

 

•-  cá nhân và xã hội

 

•-  Cung cấp dịch vụ và làm việc theo  chiều hướng thay đổi.

 

•-  Hỗ trợ cá nhân và thực hành cộng đồng.

Thực hành ở Cấp vi mô :

•-  Làm việc với cá nhân gia đình và nhóm nhỏ ( hệ thống thân chủ )

 

•-  Tiến trình giúp đỡ là mối quan hệ đối tác thông qua đó nhân viên xã hội hợp tác hoặc cùng làm việc với thân chủ đặc biệt quan tâm đến các mặt mạnh khả năng và tiềm năng của thân chủ.

 

•-  Công tác xã hội với nhóm được sử dụng với những cá nhân cùng vấn đề để họ thỏa mãn nhu cầu và qua nhóm họ được tăng trưởng vàthay đổi.

Thực hành ở cấp trung mô :

•-  Cấp thực hành này quan tâm đến các nhóm chính quy và các tổ chức phức tạp hơn ( như câu-lạc bộ đoàn thể nhóm tự giúp tổ chức xã hội trường học

 

bệnh viện trại giam xí nghiệp...). Mục tiêu là phối hợp và huy động tài nguyên để cung cấp sản phẩm hay dịch vụ. Khi làm việc ở cấp này nhân viên xã hội chú trọng đến sự thay đổi của tổ chức hơn là những cá nhân.