CTXH CÁ NHÂN. CTXH NHÓM CTXH THƯC HÀNH

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh

Trích dịch từ: L.S. De GUZMAN WORKING WITH INDIVIDUALS - The CASE WORK PROCESS (Làm việc với cá nhân - Tiến trình CTXH cá nhân) NASWE Manila 1992.
  CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN  


1. Sự phát triển của CTXH cá nhân (CTXHCN)

 

CTXHCN là phương pháp can thiệp đầu tiên của ngành được xây dựng một cách khoa học. Phương pháp này bắt đầu từ cuối những năm 1800 với các tổ chức Từ Thiện (Charity Organizations) Mỹ. Các tổ chức này tuyển dụng những nhà thăm viếng hữu nghị (friendly visitors) để giúp đỡ người nghèo. Họ tới thăm từng người tìm hiểu cặn kẽ những người cần sự giúp đỡ cho những lời khuyên và giúp đỡ tài chánh. Dịch vụ chủ yếu mà họ cùng cấp là tham vấn.

 

Thời gian sau những khám phá của các nhân viên này cho thấy rằng nguyên nhân khó khăn không chỉ xuất phát từ một khiếm khuyết của nhân cách mà từ các điều kiện xã hội trong đó thân chủ sinh sống. Họ kết luận rằng môi trường có một ảnh hưởng rất lớn đối với cá nhân. Từ đó các tổ chức Từ Thiện nói trên quyết định thực hiện cải cách xã hội để cải thiện các điều kiện vật chất và xã hội của người lao động nghèo. Họ đã thành công ở nhiều khía cạnh tuy nhiên mặc dù có những cải thiện nhiều gia đình tiếp tục sống trong nghèo khổ và bần cùng. Từ đó họ quyết định rằng các "nhà thăm viếng hữu nghị" phải làm việc gầân gũi hơn nữa với từng cá nhân và gia đình trên cơ sở trực tiếp với từng trường hợp một.

 

Một trong các khám phá của giai đoạn này là sự phục hồi của thân chủ không thể thực hiện chỉ bằng tham vấn. Sự giúp đỡ tài chánh cũng cần thiết cho gia đình thân chủ trong giai đoạn thích ứng tái huấn luyện và phục hồi. Từ đó các cơ sở xã hội giúp đỡ tài chánh kèm theo tham vấn.

 

Đầu những năm 1900 Mary Richmond và các nhà tiên phong khác về CTXH cá nhân xây dựng một cách tiếp cận khoa học hơn để giúp đỡ thân chủ. Bà hình dung CTXHCN như một tổng thể gồm 3 mặt: nghiên cứu xã hội chẩn đoán trị liệu. Ngày nay tổng thể 3 mặt này gồm 7 bước: nhận diện vấn đề thu thập dữ kiện thẩm định chẩn đoán kế hoạch trị liệu trị liệu lượng giá và tiếp tục hay chấm dứt. Từ đó CTXHCN tiếp tục phát triển. Những năm đầu CTXHCN chịu sự ảnh hưởng của mối quan tâm đến các điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng hoàn cảnh của thân chủ. Kế đó dưới ảnh hưởng của những khám phá của Signumd Freud và môn đồ của ông ta các NVXH xem xét kỹ càng hơn khía cạnh tình cảm và tâm lý xã hội trong vấn đề của các nhân thân chủ. Các bịnh viện đa khoa bắt đầu tuyển dụng NVXH để tìm hiểu điều kiện gia đình và sinh sống của bịnh nhân nhằm mục đích chữa trị về y khoa.

 

Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng ảnh hưởng đến CTXH cá nhân. NVXH bắt đầu làm việc gần gũi với các cựu chiến binh và gia đình họ. Theo kết quả quan sát và kinh nghiệm họ đem cách giải thích về tâm lý và tâm thần học để thay thế các lý giải may tính xã hội học. Họ bắt đầu điều chỉnh phương pháp làm việc với những con người có nhu cầu. Một số nguyên tắc hướng dẫn và tiền đề về giá trị hình thành trong giai đoạn này.

 

Thế chiến thứ hai cũng ảnh hưởng đến sự thực hành CTXHCN. Người ta quan sát thấy song song với khó khăn vật chất những khó khăn về nhân cách ngày càng gia tăng. Từ đó NHXH xem xét lại tính chất các dịch vụ mà họ cung ứng cho các cá nhân có vấn đề về nhân cách. Tham vấn được tăng cường và nới rộng để bao gồm gia đình của thân chủ. Càng ngày người ta cũng nhận thấy về ảnh hưởng của văn hóa đối với hành vi của thân chủ. Các NVXH trong lãnh vực y tế và tâm thần ngày càng được tìm tới.

 

Ngày nay với nhiều ảnh hưởng khác nhau xoay quanh cá nhân trọng tâm của sự can thiệp không chỉ còn là cá nhân mà "cá nhân trong tình huống" đây là sự công nhận mối tương tác giữa cá nhân và môi trường...  


CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
  


CTXH nhóm là phương pháp CTXH nhằm giúp tăng cường củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân có nghĩa là :

 

    -   ứng dụng những kiến thức kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc   năng động nhóm)

 

  -   nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề

 

  -   các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân nhóm cộng đồng) thay đổi hành vi thái độ niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu.

 

Thí dụ : - Nhóm trẻ đá banh của lớp học tình thương (Nguyên Hương)

 

  - Nhóm của 3 người bộ hành kết hợp để đẩy tảng đá bên dường.

 

2.Các mục tiêu của CTXH nhóm  :

   -  Đánh giá (thẩm định) cá nhân : về nhu cầu/khả năng/hành vi qua  việc tự đánh giá của nhóm viên đanh giá cùa tác viên (NVXH) đánh giá của bạn bè trong nhóm (nhóm trẻ em/người lớn phạm pháp nhóm cha mẹ nuôi trẻ em đường phố)

 

   -  Duy trì và hỗ trợ cá nhân : hỗ trợ cá nhân đương đầu với những khó khăn của cá nhân hay khó khăn trước hoàn cảnh xã hội (nhóm người khuyết tật nhóm phụ huynh khuỵết tật)

 

   -  Thay đổi cá nhân : nhiều loại từ  hành vi cho đến phát triển nhân cách : kiểm soát xã hội (nhóm vi phạm luật pháp nhằm tránh tái phạm trong tương lai;  xã hội hoá

 

  ( nhóm trẻ trong cơ sở tập trung học tập kỹ năng xã hội để sống tại cộng đồng) hành vi tương tác (nhóm huấn luyện để tự khẳng định); giá trị và thái độ cá nhân (nhóm sử dụng ma túy nhằm tác động đế giá trị và thái độ của họ; hoàn cảnh kinh tế (nhóm người thất nghiệp với mục đích tìm việc làm) cảm xúc và khái niệm về bản thân (nhóm phát triển lòng tự trọng tăng năng lực); phát triển nhân cách (nhóm T group).

 

   -  Cung cấp thông tin giáo dục (nhóm giáo dục sức khỏe nhóm kỹ năng làm cha mẹ nhóm tình nguyện viên).

 

   -  Giải trí ( vui chơi để đền bù sự mất mát trong cuộc sống )

 

   -  Môi trường trung gian giữa cá nhân và hệ thống xã hội : nhóm bệnh nhân và bệnh viện

 

   -  Thay đổi nhóm và/ hoặc hỗ trợ : nhóm gia đình -cải thiện vấn đề truyền thông nhóm trẻ phạm pháp-hướng hành vi tiêu cực sang những họat động tích cực.

 

   -  Thay đổi môi trường : phát triển cộng đồng - nhóm ở cơ sở cải thiện chất lượng cuộc sống nhóm đòi hỏi phương tiện cho con em phụ huynh lao động ...

 

   -  Thay đổi xã hội : Tăng nhận thức của cá nhân và tái phân phối quyền lực (nhóm chính quyền địa phương)

 

3. Các đặc điểm của công tác xã hội với nhóm :

  -  Hoạt động nhóm là nơi thoả mãn nhu cầu của cá nhân

 

  -  Đối tượng tác động là mối quan hệ tương tác trong nhóm

 

  -  Nhóm tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề

 

  - Ảnh hưởng nhón giúp thay đổi hành vi thái độ của cá nhân

 

  -  Nhóm là mội trường bộc lộ.

 

  -  Các yếu tố cần quan tâm trong CTXH nhóm : 7 yếu tố

 

  * Đối tượng là ai

 

  * Nơi sinh hoạt bối cảnh sinh hoạt

 

  * Nhu cầu gì cần được đáp ứng

 

  * Mục tiêu cần đạt được

 

  * Giá trị : sinh hoạt nhóm dựa trên quan điểm gì

 

  * Lý thuyết: sử dụng lý thuyết nào

 

  * Phương cách thực hành ; cơ cấu vai trò trách nhiệm mối quan hệ  bên trong và bên ngoài nhóm các hoạt động nào được sử dụng cách thức tổ chức ...

 

4. Các loại hình công tác xã hội với nhóm:
 

   - Nhóm giải trí : rèn luyện và phát triển nhân cách

 

   - Nhóm giáo dục : Kiến thức và kỹ năng

 

   - Nhóm tự  giúp

 

   - Nhóm với mục đích xã hội hóa

 

   - Nhóm trị liệu

 

   - Nhóm trợ giúp

 

5. Các qui điều đạo đức trong công tác xã hội nhóm

6. Những thuận lợi và bất lợi trong trị liệu thông qua nhóm
 

   6.1 Những thuận lợi :
 

*  Giúp những kinh nghiệm xã hội

 

*  Là nguồn hỗ trợ lẫn nhau và giải quyết vấn đề

 

*  Có thể thay đổi thái độ cảm xúc hành vi trong bối cảnh nhóm do tương tác xã hội bao gồm làm mẫu các vai trò củng cố phản hồi (cửa sổ Johari)

 

*  Mỗi thành viên trong nhóm là một người có tiềm năng giúp đỡ. Vai trò của NVXH và thân chủ ít phân biệt được trong nhóm vì sự giúp đỡ và chia sẻ lãnh đạo giữa các thành viên trong nhóm và nhân viên xã hội cũng là một thành viên.

 

*  Nhóm có thể dân chủ và tự quyết cung cấp nhiều quyền lực hơn cho thân chủ

 

*  Nhóm thích hợp cho các đối tượng thụ hưởng dịch vụ.

 

*  Nhóm  có thể tiết kiệm thời gian và năng lực của nhân viên xã hội

 

  6.2 Những bất lợi :
 

*  Việc bảo mật khó duy trì trong CTXH nhóm hơn là trong CTXH cá nhân.

 

*  Nhóm được thành lập có khó khăn để hoạch định tổ chức và thực hiện. Công việc chuan bị cho loại nhóm nầy là quan trọng có nhiều khó khăn cản trở phải khắc phục ở cấp độ nhóm viên đồng nghiệp và cơ quan.

 

*  Nhóm cần nhiều tài nguyên : NVXH có thể phải thương lượng để có những tiện nghi quỹ trang thiết bị di chuyển...

 

*  Cá nhân ít được quan tâm riêng trong nhóm. Một số cá nhân ít nhất là ở vào giai đoạn phát triển nào đó không thể ứng phó với việc chia sẻ cạnh tranh trong bối cảnh nhóm họ cần một sự quan tâm đặc biệt của một mối quan hệ cá nhân. Trong nhóm họ có thể disruptive thụ động tổn thương hay là vật tế thần. Đoi khi một thời gian công tác với cá nhân có thể chuẩn bị tốt cho sự tham gia nhóm.

 

*  Cá nhân dễ bị "dán nhãn" hơn. Thí dụ nhóm phụ huynh đơn thân nhóm trẻ trốn học nhóm nghiện rượu...

 

*  Nhóm có thể nguy hiểm đối với một thiểu số nhỏ. Nhóm và nghười hướng dẫn nhóm có thể tấn công một cá nhân từ chối cá nhân. Lãnh đạo nhóm như thế nào sẽ giảm thiểu được nguy cơ nầy. (liên quan đến kỹ năng lãnh đạo nhóm).   CÔNG TÁC XÃ HỘI THỰC HÀNH

  Công tác xã hội thực hành chú trọng đến :

 

•-  cá nhân và xã hội

 

•-  Cung cấp dịch vụ và làm việc theo  chiều hướng thay đổi.

 

•-  Hỗ trợ cá nhân và thực hành cộng đồng.

Thực hành ở Cấp vi mô :

•-  Làm việc với cá nhân gia đình và nhóm nhỏ ( hệ thống thân chủ )

 

•-  Tiến trình giúp đỡ là mối quan hệ đối tác thông qua đó nhân viên xã hội hợp tác hoặc cùng làm việc với thân chủ đặc biệt quan tâm đến các mặt mạnh khả năng và tiềm năng của thân chủ.

 

•-  Công tác xã hội với nhóm được sử dụng với những cá nhân cùng vấn đề để họ thỏa mãn nhu cầu và qua nhóm họ được tăng trưởng vàthay đổi.

Thực hành ở cấp trung mô :

•-  Cấp thực hành này quan tâm đến các nhóm chính quy và các tổ chức phức tạp hơn ( như câu-lạc bộ đoàn thể nhóm tự giúp tổ chức xã hội trường học

 

bệnh viện trại giam xí nghiệp...). Mục tiêu là phối hợp và huy động tài nguyên để cung cấp sản phẩm hay dịch vụ. Khi làm việc ở cấp này nhân viên xã hội chú trọng đến sự thay đổi của tổ chức hơn là những cá nhân.

More...

NỀN TẢNG TRIẾT LÝ CỦA NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CHUYÊN NGHIỆP

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh

Một ngành mới một cách nghĩ mới mà cán bộ hội cần biết
 

I. NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CHUYÊN NGHIỆP


1. Định nghĩa Công tác xã hội chuyên nghiệp.


Vào tháng 7 năm 2000 tại Hội nghị Quốc tế Montreal Canada Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) đã thông qua một định nghĩa mới cho Công tác xã hội (CTXH). CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề.



CTXH dưới nhiều hình thức đa dạng của nó nhằm vào vô số các tương tác phức hợp giữa con người và các môi trường của họ. Sứ mạng của nó là tạo năng lực giúp người dân phát triển tối đa tiềm năng làm phong phú đời sống của họ và ngăn ngừa các trục trặc. CTXH chuyên nghiệp tập trung vào quá trình giải quyết các vấn đề và sự thay đổi. Do đó nhân viên CTXH (hay được gọi là nhân viên xã hội -NVXH) là những tác nhân đổi mới trong xã hội trong đời sống của các cá nhân gia đình cộng đồng mà họ phục vụ. CTXH là một hệ thống liên kết các giá trị lý thuyết và thực hành.


2. Giá trị của Công tác xã hội chuyên nghiệp.


CTXH xuất phát các lý tưởng nhân văn và dân chủ các giá trị của nó dựa trên cơ sở tôn trọng sự bình đẳng phẩm giá và sự xứng đáng của mọi dân tộc. Từ những ngày khởi đầu của nó cách đây một thế kỷ CTXH thực hành nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu và phát triển tiềm năng của con người. Nhân quyền và công bằng xã hội là động lực và sự biện giải cho hoạt động CTXH. Trong sự liên đới với những người bị thiệt thòi nghề CTXH cố gắng giảm thiểu sự nghèo khó và giải phóng những người bị tổn thương hay bị áp bức để thúc đẩy sự hòa nhập xã hội (đúng như định hướng giải phóng con người của Chủ nghĩa xã hội). Các giá trị của CTXH được thể hiện trong các quy điều đạo đức nghề nghiệp quốc gia và quốc tế.


3. Lý thuyết của Công tác xã hội chuyên nghiệp.


Phương pháp luận CTXH dựa trên một hệ thống kiến thức đã được chứng minh rút ra từ các cuộc nghiên cứu và lượng giá thực hành bao gồm cả kiến thức địa phương và bản xứ trong bối cảnh đặc thù của chúng. Nó thừa nhận tính phức tạp trong mối tương tác giữa con người và môi trường của họ và khả năng của người dân vừa chịu sự tác động vừa thay đổi các ảnh hưởng đa dạng bao gồm cả nhân tố sinh-tâm lý-xã hội-văn hóa. Nghề CTXH vận dụng các lý thuyết về phát triển con người và hành vi và về các hệ thống xã hội để phân tích các tình huống phức tạp và tạo thuận lợi cho sự thay đổi ở cấp cá nhân tổ chức xã hội và văn hóa.


4. Thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp.


CTXH nhằm vào các rào cản các bất bình đẳng và bất công xã hội. Nó đáp ứng các khủng hoảng và các tình trạng khẩn cấp cũng như các vấn đề hằng ngày của cá nhân và xã hội. CTXH sử dụng những kỹ năng kỹ thuật và hoạt động đa dạng phù hợp với trọng tâm tổng thể của nó đối với con người và môi trường của họ. Các mô hình can thiệp của CTXH bao gồm những tiến trình tâm lý xã hội nhằm vào con người ở cơ sở đến việc tham gia vào chính sách hoạch định và phát triển xã hội. Các phương thức can thiệp này gồm tham vấn CTXH lân sàng công tác xã hội nhóm công tác sư phạm xã hội điều trị và trị liệu gia đình cũng như nỗ lực giúp người dân có được các dịch vụ và nguồn lực trong cộng đồng. Các cách can thiệp cũng bao gồm quản trị cơ quan xã hội tổ chức cộng đồng và tham gia vào các hành động xã hội - chính trị để tác động đến chính sách xã hội và phát triển kinh tế.


5. Quá trình hình thành CTXH như một khoa học.


Các vấn đề xã hội theo nghĩa hiện đại xuất phát ở London nước Anh vào thời cách mạng công nghiệp với nạn thất nghiệp mãi dâm bóc lột lao động trẻ em v.v...Những tình nguyện viên đầu tiên bắt đầu với công tác thăm viếng ủy lạo từng trường hợp. Từ đó họ rút ra nhiều bài học hữu ích. Ví dụ thất nghiệp không chỉ có nghĩa không việc làm và túng thiếu mà còm kèm theo tâm lý chán nản mặc cảm vì không gánh vác nỗi trách nhiệm gia đình v.v..Nó còn dẫn tới rượu chè trộm cướp nữa. Điều này có nghĩa cứu đói không đủ mà còn phải hỗ trợ về mặt tâm lý giúp tìm việc làm v.v...( nguyên lý về các mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật của Mác ).Từ đó các tình nguyện viên thấy rằng các kiến thức tâm lý xã hội rất cần thiết. Mỗi trường hợp là cá biệt cần có biện pháp giúp đỡ riêng. Cần lập những hồ sơ xã hội và ghi chép kỹ các diễn biến tâm lý của đối tượng. Một cơ quan thường không đầy đủ chức năng giúp các trường hợp có nhiều vấn đề khác nhau như nghèo đói mà còn bệnh tật chẳng hạn. Nên các cơ quan y tế xã hội phải phối hợp giúp đỡ lẫn nhau thông qua một động tác gọi là chuyển tuyến trong một mạng lưới hỗ trợ xã hội được pháp chế hóa.


Các tình nguyện viên cũng khám phá rằng người được giúp đỡ có xu hướng ỷ lại trông chờ viện trợ bên ngoài. Từ đó họ triển khai các phương pháp giúp đỡ mà không tạo sự ỷ lại và hình thành nguyên tắc cốt lõi của CTXH là sự "tự giúp" của người được giúp (thân chủ).


Muốn thế phải vận dụng kiến thức khoa học rèn luyện kỹ năng hỗ trợ sao cho không tạo sự lệ thuộc. Các tình nguyện viên tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi kinh nghiệm và từ từ tiến tới tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn rồi dài hạn. Cuối cùng trường CTXH chính quy đầu tiên được thành lập năm 1901 tại Mỹ ().


II. LỊCH SỬ ĐÀO TẠO VÀ THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ

   TẠI VIỆT NAM.


Trước hết từ "Công tác xã hội" trong tiếng Việt là một từ chung bao gồm các việc tốt việc từ thiện mà ai cũng làm được. Trước đây các khoa học xã hội hiện đại ứng dụng ít được quan tâm đến đến đối với hệ thống khoa học xã hội xã hội chủ nghĩa. "Chủ nghĩa xã hội khoa học" rất tốt để phân tích các chuyển biến xã hội ở cấp vĩ mô nhưng chưa đáp ứng nhiều cho cấp trung và vi mô. Nhưng trong một thời gian dài đã qua có ý tưởng cho rằng nó có thể lý giải mọi hiện tượng xã hội. Cho nên trước đây thường các vấn đề xã hội như trẻ vị thành niên phạm pháp nạn mại dâm ma túy và cả HIV/AIDS được gọi là "tệ nạn xã hội" và được giải quyết bằng những lời kêu gọi đạo đức và tổ chức mít - tinh hơn là bằng các phương pháp giải quyết vấn đề một cách khoa học.


Tuy nhiên vào cuối những năm 80 khi các vấn đề xã hội phát triển nhanh và một nhóm nhân viên xã hội chuyên nghiệp được đào tạo trước năm 1975 được thành lập không chính thức để đáp ứng tình hình. Lãnh vực đầu tiên của nhóm này là trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vì đối tác đầu tiên của nhóm là Hội Bảo trợ Trẻ em cũng là tổ chức phi chính phủ đầu tiên đã tuyển dụng nhân viên xã hội chuyên nghiệp theo đề nghị của nhóm. Các đối tác khác là các Ủy Ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em cấp thành phố và cấp quận cũng là một tổ chức nhà nước mới được thành lập.


Điều tra nghiên cứu khả thi tập huấn ngắn hạn lượng giá dự án được yêu cầu liên tục khiến cho nhóm nhân viên xã hội ngày càng bận bịu. Và nhóm được ra mắt với cái tên "Nhóm Nghiên cứu và Huấn luyện về Công tác xã hội" và được đặt dưới sự bảo trợ của Hội Tâm lý Giáo dục học TP. Hồ Chí Minh (1989). Hoạt động an sinh và quyền trẻ em phát triển nhanh vì Việt là nước thứ hai ký vào Công Ước về Quyền Trẻ em. Các cách tiếp cận sáng tạo như phát triển lấy trẻ làm trọng tâm phát triển kinh tế xã hội ở các cộng đồng nơi trẻ xuất phát giúp đưa trẻ về gia đình; ở thành phố Hồ Chí Minh có nhiều chương trình tiếp cận trẻ ngoài đường phố rất năng động. Những việc này thực hiện được nhờ sự hỗ trợ tài chánh lẫn chuyên môn do các Tổ chức phi chính phủ quốc tế như Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Anh Radda Barnen và UNICEF... nhưng đặc biệt hơn là nhờ sự chuyên môn hóa của đội ngũ cán bộ Việt . Tuy nhiên vấn đề phải được công nhận rằng sự tiến bộ diễn ra chủ yếu ở lãnh vực tư. Song song với hoạt động trên qua sự tham gia với các bác sĩ tâm thần để xây dựng các dự án cho trẻ chậm phát triển trí tuệ nhóm đã gặp các bác sĩ quan tâm đến cách tiếp cận cộng đồng trong chăm sóc và giáo dục sức khỏe. Nhóm được mời tập huấn về "giáo dục có sự tham gia" cho cán bộ sức khỏe và "giáo dục sức khỏe" ở Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe (T4G - Sở Y tế TP. HCM) và cùng với T4G chúng tôi đã đưa các khoa học xã hội về hành vi con người vào Trung tâm Đào tạo Y khoa Thành phố cũng mới mở vào thời điểm đó. Nay Trung tâm Đào tạo có một bộ môn về khoa học về hành vi và giáo dục sức khỏe do một thạc sĩ về Công tác xã hội là giảng viên cơ hữu phụ trách.


Ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990 khi nhóm nhân viên xã hội đang hợp tác với T4G nên cho tới nay dù không thường xuyên nhóm tham gia công tác nghiên cứu tập huấn về các chủ đề liên quan đến HIV khi có yêu cầu. Sự hợp tác giữa lãnh vực sức khỏe và công tác xã hội ngày càng khắng khít khi hai nhân viên xã hội lấy bằng thạc sĩ về khoa học xã hội về sức khỏe và có một số nhân viên xã hội trẻ làm công tác phòng chống HIV. Đến nay chỉ có Viện Tim Tp. Hồ Chí Minh hợp tác với Pháp đã tuyển một nhân viên xã hội với nhiệm vụ chính là đi thăm và đánh giá các trường hợp bệnh nhân nghèo để cho mổ miễn giảm viện phí. Ý tưởng mở phòng Công tác xã hội ở các bệnh viện để tham vấn HIV được hoan nghênh nhưng trở ngại về ngân sách và các yếu tố hành chánh khác còn là lực cản lớn.


Phát triển cộng đồng (PTCĐ) cũng được phát hiện tình cờ qua một bài báo của chúng tôi do một Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp An Giang (1990). Nhóm nhân viên xã hội đã bắt đầu tập huấn cho cán bộ khuyến nông và từ đó PTCĐ trở thành một môn học thường xuyên ở Trường Quản lý Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phía tại TP. Hồ Chí Minh và Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.


Một bác sĩ ở Long An phát hiện PTCĐ qua Bản tin Sức khỏe (của T4G) và đã bắt đầu một chương trình giáo dục sức khỏe kết hợp với tín dụng tiết kiệm cho dân làng. Tới nay mô hình rất thành công và được nhân ra ở nhiều tỉnh miền . Một huyện rất nghèo ở miền Trung (Kỳ Anh Quảng Ngãi) mới được chọn để báo cáo điển hình tại Hội nghị toàn quốc về xóa đói giảm nghèo. Và chủ đề của báo cáo là "Xoá đói giảm nghèo bền vững bằng PTCĐ". Tất cả những thành tích của huyện gây nhiều ngạc nhiên vì các tác viên PTCĐ chỉ tổ chức một số khóa tập huấn cung cấp một số tài liệu mà ngày nay cách tiếp cận này được nhiều địa phương trong nước ứng dụng.


Ở thành phố thì mọi việc diễn ra có chậm hơn và trong nhiều năm nâng cấp đô thị di dời... diễn ra không có sự tham gia của nhân viên xã hội. Một tổ chức phi chính phủ quốc tế là ENDA ( Environmental Development Action in the 3rd World ) thông qua các dự án PTCĐ nhỏ đã gây nhận thức cho chính quyền địa phương về sự tham gia của người dân trong các hoạt động "tự giúp". Năm 1999 lần đầu tiên các khái niệm về tham gia tăng năng lực được ghi nhận chính thức trong kế hoạch nâng cấp đô thị và cải thiện môi trường khu vực kinh Lò Gốm ở Quận 6. Nhận thức bước đầu này có được là do đây là một chương trình hợp tác giữa hai chính phủ Bỉ và Việt . Một toán gồm 6 nhân viên xã hội cùng hợp tác với các kiến trúc sư nhà thiết kế kỹ sư xây dựng để lôi cuốn người dân tham gia vào việc cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội môi trường cho cuộc sống của chính họ.



Nhân viên xã hội hiện nay được các tổ chức quốc tế lớn như Chương trình phát triển LHQ Ngân hàng Thế giới... mời làm công tác giám sát xã hội tư vấn cho các dự án như công trình công cộng nhà ở di dời để tổ chức sự tham gia của người dân.


Nói chung các dự án hoạt động đầu tiên mang tính chất cộng đồng và phát triển xã hội. Các vấn đề xã hội mới xuất hiện như nghiện ma túy HIV/AIDS đòi hỏi các hoạt động công tác xã hội mang tính lâm sàng mà nhóm chưa được chuẩn bị. Tuy nhiên Trung tâm Cai nghiện và Phục hồi tốt nhất (Trung Tâm Nhị Xuân Hóc Môn) là do Lực lượng Thanh niên Xung phong TP.HCM. phụ trách - một tổ chức rất được thuyết phục về nhu cầu đào tạo chuyên môn. Do đó toàn Ban Giám hiệu của Trung tâm đều tốt nghiệp từ Khoa Phụ Nữ Học Đại học Mở Bán Công TP.HCM..Thành công tương đối của Trung tâm chứng minh sự cần thiết của đào tạo chuyên môn.


Một tổ chức quan trọng như Chữ Thập Đỏ Việt đã nhờ tập huấn cho hội viên về công tác xã hội từ trung ương đến địa phương. Đã có cả trăm cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp tỉnh đã tốt nghiệp tại Khoa Phụ Nữ Học. Một tỷ lệ quan trọng trong sinh viên là những tu sĩ và thanh niên Công giáo. Gần đây có thêm học viên từ phía Phật giáo. Như thế công tác xã hội ở miền đã tiếp cận được nhiều lãnh vực khác nhau.


Công tác xã hội ở phía Bắc mới phát triển gần đây (5 - 6 năm) và diễn tiến chậm hơn. Nguyên do chính có lẽ là không có các hạt giống chuyên môn như trong và môi trường chung hơi khó đột phá. Một số môn được dạy ở đại học đã có nhiều khóa tập huấn nhưng có lẽ sáng kiến từ các nhà khoa bản khó xuống tới thực tế. Công tác xã hội được xem như một mớ lý thuyết được giảng dạy bằng thuyết trình. Các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã tích cực đưa cách tiếp cận của công tác xã hội vào các dự án của họ nhưng chưa có ảnh hưởng rộng rãi vì nhân viên Việt của họ không phải là nhân viên xã hội chuyên nghiệp. Nhưng các tổ chức này đã đóng vai trò rất quan trọng để lên tiếng ủng hộ các sáng kiến chuyên môn đích thực từ phía .



Trường Cao đẳng Lao động Xã hội (3 năm) thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã bắt đầu chương trình giảng dạy trong niên khóa 2001. Nhưng rất tiếc Trường chưa có thầy là người chuyên môn. Thực tập mới bắt đầu đưa vào được quan tâm.


Hiện nay sự trao đổi để hỗ trợ lẫn nhau giữa hai miền ngày càng tăng. Các thủ tục để xin mã số đào tạo công nhận công tác xã hội như một ngành khoa học đang được tiến hành. Khi ngành khoa học này được công nhận thì mới hội những điều kiện cần thiết để phát huy và thực hành tốt nền tảng triết lý của CTXH.



III. NỀN TẢNG TRIẾT LÝ CỦA CTXH CHUYÊN NGHIỆP.


1. Nền tảng triết lý.


Nền tảng triết lý của ngành CTXH chuyên nghiệp dựa trên 6 nguyên tắc chỉ nam:


  1. Cá nhân là mối quan tâm hàng đầu của xã hội.
  2. Giữa cá nhân và xã hội có một sự phụ thuộc hỗ tương.
  3. Mỗi bên đều có trách nhiệm đối với nhau.
  4. Con người có những nhu cầu giống nhau nhưng mỗi con người là một cái gì độc đáo không giống người khác.
  5. Mỗi con người cần được phát huy hết tiềm năng của mình và cần được thể hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội thông qua sự tích cực tham gia vào xã hội.
  6. Xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để khắc phục những trở ngại đối với sự phát huy(hay tự thể hiện) của cá nhân. Những trở ngại ấy chính là sự mất cân bằng trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội.

Sáu nguyên tắc trên chủ trương sự hài hòa giữa cá nhân và xã hội một chủ trương mà mọi xã hội nhân bản đều nhắm tới. Hơn nữa sáu nguyên tắc này đều phù hợp với nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật của Mác-Anghên sáng lập.


Có xã hội như xã hội phong kiến chẳng hạn chỉ quan tâm đến trật tự xã hội chung và cá nhân phải hy sinh hạnh phúc riêng để phục tùng trật tự chung ấy. Điển hình nhất là thân phận "tam tòng" của phụ nữ Á châu. Nhưng với sự phát triển của xã hội của ý thức cá nhân và sự lan tràn của chủ nghĩa tự do cái khung ấy ít nhiều đã bị phá vỡ. Và người ta lại đi quá đà với cá nhân chủ nghĩa cực đoan :"đèn nhà ai nấy sáng" "sống chết mặc bây" đã dẫn tới tình trạng "cá lớn nuốt cá bé" người bốc lột người phân hóa giàu nghèo trong kinh tế (tư bản chủ nghĩa).



Xã hội Việt nam chúng ta như các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa cũ đã nỗ lực chống lại chủ nghĩa cá nhân trên nhưng trong cách làm lại quên đi cá nhân mà đặt nặng tập thể. Sự quá đà theo hướng này đã dẫn đến hậu quả nào mà chúng ta đã thấy. Một trong các hậu quả của nó là chủ nghĩa cá nhân cực đoan của một số người chỉ biết vơ vét thu lợi cho bản thân. Ngày nay khi đã tiếp cận với thị trường tự do thì người ta quan sát nhận ra một thứ "chủ nghĩa tư bản hoang dã" đang tung hoành vơ vét một cách đáng sợ.


Thực trạng này chứng minh rằng cái gì đi quá đà và không tuân theo nguyên tắc về mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và tập thể cũng đưa tới sự diệt vong của con người và xã hội ( phép biện chứng duy vật của Mác và Anghên ). Vì thái cực này luôn luôn dẫn tới thái cực kia. Xã hội ta đang chứng kiến điều này và sự phân hóa giàu nghèo đang là mối quan tâm không nhỏ của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt nam và nhân dân. K.Marx đã nói :"Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Đúng như vậy giải quyết vấn đề của con người thì phải xem xét con người toàn diện trong tổng thể của môi trường và bối cảnh mà người ấy đang sống. Triết lý "giữa cá nhân và xã hội có một sự phụ thuộc hỗ tương"đáp ứng đúng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến một trong hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật của K. Marx. Do đó khi đánh gía vấn đề của con người là phải xem xét con người ấy trong bối cảnh toàn diện trong sự đa dạng của mối liên hệ của họ trong môi trường sống.


Sáu nguyên tắc trên hết sức phù hợp với chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam: "Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột bất công làm theo năng lực hưởng theo lao động có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân"(văn kiện ĐH IX) "Phát huy nhân tố con người" "chăm lo cho hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta" "chăm sóc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội văn minh".



Nói đến "hạnh phúc con người" thì không thể có hạnh phúc chung chung mà hạnh phúc của từng người. Hạnh phúc của em bé X thì được đến trường hạnh phúc của bà mẹ nghèo Y khi được nuôi con mình hạnh phúc của thanh niên khuyết tật Z khi được hòa nhập xã hội. Chỉ khi cá nhân hạnh phúc gia đình hạnh phúc thì xã hội mới hài hòa. Chắc chắn sẽ bớt đi trẻ em lang thang tôi phạm nghiện ma túy mãi dâm và nhiều tệ nạn xã hội khác nếu người người nhà nhà được hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc cá nhân chỉ có thật khi xuất phát từ một cộng đồng hòa hợp công bằng và khi từng người không chỉ lo cho mình mà còn đóng góp có trách nhiệm với xã hội. Có một sự thật hay bị lãng quên là "người ta hạnh phúc không chỉ khi được nhận mà nhất là lúc được cho người khác". Biết bao người hạnh phúc thật nhờ tham gia công tác xã hội tình nguyện khi hy sinh cả cuộc đời cho một lý tưởng xã hội cho một công trình khoa học.



Nguyên tắc số 4 là bí quyết thành công cho mọi hoạt động giáo dục và xã hội. Từ đó "cá biệt hóa" là một trong các nguyên tắc hành động cơ bản trong CTXH. Kinh nghiệm chưa thành công vừa qua đủ để thuyết phục chúng ta về nguyên tắc này. Làm theo kiểu "cá mè một lứa" tuyên truyền chung chung từ trên dội xuống trong công tác giáo dục sức khỏe kế hoạch hóa gia đình v.v...đã đưa đến nhiều thất bại.


Nguyên tắc số 5 nhắc đến quyền của cá nhân và trách nhiệm của xã hội để tạo điều kiện cho sự phát huy tối đa tiềm năng của mọi người lại càng trùng hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt (phát huy nhân tố con người). Thực hiện nguyên tắc này thật khó trong hoàn cảnh không những thiếu thốn về kinh tế mà còn yếu về tri thức khoa học. Dù sao đây là điều tâm niệm sâu sắc nhất của người làm CTXH. Nhân viên xã hội sẽ ăn không ngon ngủ không yên khi em bé kia chưa được đến trường thanh niên nọ còn chưa có việc làm xã nông thôn nọ chưa có nước sạch.


Như vậy CTXH không phải là từ thiện xoa dịu nhất thời. Nó là công cụ bên cạnh các ngành nghề khác góp phần điều hòa xã hội vì hạnh phúc con người và từng con người. Nó rất gần gũi với chủ nghĩa nhân đạo của Bác Hồ chủ nghĩa nhân đạo của Bác không phải là một việc làm ban ơn mà chủ yếu là khơi dậy trong mỗi con người lòng tự hào và lòng tự tin ý chí và nhiệt tình để mỗi con người tự mình khẳng định lấy mình.

2. Các nguyên tắc hành động của nhân viên xã hội (NVXH)


Xuất phát từ nền tảng triết lý trên nhân viên xã hội hành động theo 7 nguyên tắc chủ đạo :



2. 1. Chấp nhận thân chủ :


Được giáo dục theo một hình thức đạo đức co tính áp đặt chúng ta dễ dàng kết án hơn là tìm hiểu hoàn cảnh đã dẫn đưa một cá nhân đến lỗi lầm việc đầu tiên khi ta tiếp xúc với họ là phê phán họ kế đó là lên lớp họ với một bài học luân lý. Điều này thật ra chỉ làm cho đối tượng thêm mặc cảm mất tự tin và càng khó thay đổi. Hơn hết các lời giảng lời khuyên lơn chung chung của chúng ta không giúp ích gì cho một người đang bối rối trước hoàn cảnh đầy khó khăn.



Chấp nhận là một thái độ rất khó thực hiện nhưng người làm CTXH phải tự rèn luyện hằng ngày. Có thể chúng ta không đồng tình với hành vi sai phạm của thân chủ nhưng trước mặt chúng ta là một con người và bất cứ con người nào một cô gái lỡ lầm một trẻ em phạm pháp một thanh niên nghiện ma túy cũng có nhân phẩm có giá trị đơn giản chỉ vì họ là con người. Với một thái độ chấp nhận thật sâu sắc bên trong ta mới bộc lộ được sự tôn trọng thật sự bên ngoài và hết sức thận trọng không phê phán hay kết án mà tìm hiểu hoàn cảnh đã đưa thân chủ tới hiện trạng. Cảm nhận được sự tôn trọng vô điều kiện của ta thân chủ mới lấy lại sự tự trọng và tự tin để tự bộc lộ giải bày tâm sự.



Chấp nhận thân chủ là chấp nhận các gía trị niềm tin và văn hóa của họ. Điều khó chịu nhất là nhân viên xã hội phải học cách đánh giá và hiểu vấn đề khó khăn của thân chủ theo hệ thống tiêu chuẩn giá trị của chính thân chủ.



2. 2. Thân chủ tham gia giải quyết vấn đề vì chỉ họ mới có thể thay đổi bản thân và cuộc sống của họ.


2. 3. Quyền tự quyết của thân chủ


Xu hướng tự nhiên của chúng ta của cha mẹ đối với con cái của thầy giáo đối với học sinh của nhân viên xã hội đối với thân chủ là áp đặt ý kiến của mình. Lắm khi với đầy thiện ý vì nghĩ rằng ý của mình là hay nhất tốt nhất. Làm thế chúng ta cũng đi ngược lại với nguyên tắc 1 là tôn trọng thân chủ quên đi gía trị và tiềm năng của thân chủ để tự vươn lên.



Vả lại ngay với mỗi chúng ta một quyết định quan hệ tới chính ta mà ta lại không có tham gia ý kiến thì ta không thi hành thậm chí còn tỏ ra khó chịu và chống lại để tự khẳng định mình. Ay vậy mà áp đặt từ trên xuống từ cha mẹ tới con cái người lớn tới người nhỏ còn là phổ biến. Đúng là phải có luật lệ kỷ cương tuy nhiên nếu từ dưới lên không có một ý thức tự giác tự nguyện thì sự tuân thủ cũng chỉ là bề ngoài và sẽ không lâu bền. Vì CTXH không chỉ là xoa dịu mà giúp thân chủ thay đổi hành vi nếu là cá nhân tạo chuyển biến xã hội nếu là cộng đồng nên mọi quyết định phải có sự tham gia tích cực và sự tự quyết của thân chủ.


Tất nhiên nói tự quyết là nói đến sự lựa chọn và quyết định từ sự lựa chọn đó. Nhân viên xã hội là người đưa ra những lựa chọn nhằm cung cấp cho thân chủ những cơ hội cho quyền tự quyết. Nhưng ở những trường hợp mà quyết định của thân chủ gây tác hại đến người khác thì quyền này phải bị giới hạn và nhân viên xã hội phải đứng về phía luật pháp để quyết định nhân danh người khác.



Vì vậy nguyên tắc "tham gia" và "tự quyết"cũng là bí quyết thành công của CTXH vì chúng đem lại một sự đổi mới bền vững từ phía thân chủ.


2. 4. Cá biệt hóa


Như nguyên tắc 4 của nền tảng triết lý đã nêu con người có nhu cầu cơ bản giống nhau nhưng mỗi người là một cái gì độc đáo không giống ai khác. Tuy nhiên có thể đề cử vài ví dụ : phụ nữ không chấp nhận kế hoạch hóa gia đình vì nhiều lý do khác nhau người do thiếu hiểu biết người do muốn có con trai số khá đông do chồng không chấp thuận; phụ nữ nông thôn thì sinh con để có thêm lao động bảo đảm tuổi già. Cứ một bài học "hạnh phúc gia đình" mà giảng đi giảng lại cho tất cả bất cứ ai cũng vậy thì không thể mong chờ kết qua tốt được. Một cơ sở  tập trung dành cho trẻ phạm pháp mà lại nhận vào đó trẻ đi lạc mồ côi chậm phát triển tâm thần ... thì rất tai hại. Đây cũng là tính chất riêng biệt của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật.


2. 5. Kín đáo


Kín đáo hay giữ bí mật là nguyên tắc của nhiều ngành nghề như luật sư bác sĩ nhà tư vấn người hướng dẫn tinh thần như linh mục chẳng hạn chứ không riêng gì đối với nhân viên xã hội. Nếu "tôn trọng thân chủ" mà đi khai báo chuyện riêng tư nhất của họ thì hại nhiều hơn là lợi. Vả lại khi có một khó khăn riêng tư ai trong chúng ta cũng chỉ muốn thố lộ với người nào biết bảo đảm giữ bí mật cho ta.


Nguyên tắc này rất dễ hiểu nhưng thực hiện rất khó bởi trong văn hóa của chúng ta "người đời muôn sự của chung". Tình xóm giềng thật cao đẹp nhưng lắm khi làm cho ta thiếu thói quen tôn trọng sự riêng tư ngay cả đối với con cái. Nhân viên xã hội phải tự rèn luyện rất nhiều để bám vào nguyên tắc này. Hiện tượng báo chí "truy lùng" người bệnh HIV/AIDS nêu địa chỉ đặc điểm đến độ láng giềng có thể đoán ra ngay là một vi phạm nghiêm trọng đối với quyền con người mà xã hội ta chưa đến trình độ để nhận thức.


2. 6. Nhân viên xã hội phải hết sức ý thức về chính mình.


Nếu công cụ của người thợ mộc là cái bào của anh kỹ sư là máy móc thì công cụ của CTXH chính là nhân cách là phẩm chất con người của nhân viên xã hội. Nếu có thói quen độc tài bao biện thật khó thể hiện nguyên tắc tự quyết của thân chủ. Nếu có xu hướng nói nhiều thì rất khó lắng nghe và giữ bí mật của thân chủ. Nếu không thật nhạy bén về chính mình rất dễ vi phạm sự tôn trọng thân chủ.



Do đó nhân viên xã hội là người biết sử dụng bản ngã của mình một cách có ý thức. Luôn luôn rà lại động cơ thúc đẩy mình chọn nghề giúp đỡ người khác luôn luôn đánh giá lại cách làm của mình để có thể khách quan hơn trong nhận định vấn đề của người khác. Phải chăng ở một mặt nào đó thông qua thực tiễn con người (nhân viên xã hội) làm biến đổi đời sống xã hội đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình một phát hiện to lớn của K. Marx về bản chất con người.


Để rèn luyện nhân cách nghề nghiệp nhân viên xã hội mới vào nghề thường phải được sự giúp đỡ của một người chuyên nghiệp cao tuổi nghề hơn (gọi là kiểm huấn viên). Nhân viên xã hội luôn luôn ghi chép diễn tiến công việc và các cuộc tiếp xúc làm việc với thân chủ để đánh giá và cải tiến cách làm của mình. Quan trọng và hữu hiệu hơn hết là sự trao đổi với đồng nghiệp trong các buổi họp lượng giá.

2. 7. Tính chất nghề nghiệp của mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và thân chủ.




Nhân viên xã hội không phải là thánh họ có những sơ xuất yếu đuối như mọi người. Tuy nhiên đi vào một nghề mà đối tượng tác động vào là con người thì đặc điểm nhân cách và tác phong nghề nghiệp rất quan trọng.


Thế nào là tính chất nghề nghiệp trong mối quan hệ nhân viên xã hội - thân chủ? Trước tiên đây không phải là quan hệ gia đình bạn bè hay ân nghĩa.


Công cụ chính của các phương pháp CTXH là mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và thân chủ (cá nhân nhóm hay cộng đồng). Nó bắt đầu khi thân chủ đề đạt yêu cầu và chấm dứt khi dịch vụ xã hội hoàn thành hoặc thân chủ đã được chuyển tới một cơ quan khác. Nó mang tính nghề nghiệp bởi nhân viên xã hội phải hành động theo nền tảng triết lý và các nguyên tắc đã nêu trên. Ngoài ra nhân viên xã hội còn có những quy điều đạo đức phải tuân thủ khi hành nghề.



Giữa nhân viên xã hội và thân chủ phải có mối quan hệ bình đẳng. Nhân viên xã hội không được dùng kiến thức kỹ năng của mình để lèo lái người khác theo ý muốn của mình. Hơn hết cần tránh tạo sự phụ thuộc về tâm lý một điều thường xảy ra với người có vấn đề. Phía nhân viên xã hội nếu không được rèn luyện có thể vô tình tìm sự thỏa mãn cho chính mình khi giúp đỡ người khác.



Mối quan hệ này càng không phải vấn đề ơn nghĩa nên phải tránh tuyệt đối các hình thức "đền ơn".



Như thầy giáo giỏi là người biết làm cho học trò càng ngày không cần tới mình bác sĩ giỏi làm cho bệnh nhân mau hết bệnh nghĩa là không cần phải trở lại nhân viên xã hội giỏi là người biết làm cho thân chủ mau chóng không cần tới mình nữa nghĩa là tự giúp được chính mình .

 IV. KẾT LUẬN


Điểm qua nền tảng triết lý và các nguyên tắc hành động trong thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp chúng ta nhận thấy rất rõ nó tuân thủ một cách chặt chẻ hai nguyên lý là nguyên lý liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển (phát triển vật chất và phát triển con người) và các quy luật cơ bản đã được quy định trong phép biện chứng duy vật của K.Marx và Enghel. Mục tiêu của Công tác xã hội là phát huy nhân tố con người và phát triển xã hội. Nhân viên xã hội cần thấm nhuần và vận dụng phép biện chứng duy vật này vào công tác chuyên môn của mình ắt sẽ đưa đến những kết quả có chất lượng cao hơn.

More...

UỶ BAN CHỮ THẬP ĐỎ QUỐC TẾ (tiếp theo}

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh


   

4. Các hoạt động

4.1. Bảo vệ trong chiến tranh

Trong các hoạt động để bảo vệ người dân trong xung đột vũ trang hoặc bạo lực nhiệm vụ của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế là làm cho lời văn và tinh thần của Luật Nhân đạo Quốc tế phải được tôn trọng hoàn toàn. Ủy ban cố gắng:

  • Giảm bớt nguy hiểm cho người dân.

  • Phòng ngừa và ngăn chặn sự lạm dụng đối với người dân.

  • Chú ý đến quyền lợi của người dân và làm cho tiếng nói của họ phải được lắng nghe.

  • Mang sự giúp đỡ đến cho họ.

Ủy ban thực hiện những nhiệm vụ đó bằng cách luôn luôn gần gũi nạn nhân trong xung đột và bạo lực đồng thời duy trì việc đối thoại kín đáo với cả chính phủ và các giới chức ngoài chính phủ.

Một chiến lược đa dạng

Khi xung đột xảy ra bước chính thức đầu tiên của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế phả làm là nhắc nhở các nhà chức trách về trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với dân thường tù binh và chiến binh bị thương hay đau ốm trước hết là phải tôn trọng sự toàn vẹn về thân thể và nhân phẩm của họ. Sau khi thực hiện các khảo sát độc lập Ủy ban sẽ đề xuất những khuyến nghị với các nhà chức trách để có biện pháp cụ thể cả ngăn ngừa lẫn sửa chữa nhằm cải thiện tình hình các nạn nhân chiến tranh.

Đồng thời Ủy ban có những hoạt động của riêng mình để đáp ứng những nhu cầu khẩn cấp nhất bằng cách:

  • Cứu trợ khẩn cấp;

  • Sơ tán hoặc di chuyển những người bị nguy hiểm;

  • Phục hồi và duy trì các liên lạc gia đình và tìm kiếm người mất tích.

Ngoài ra Ủy ban còn thực hiện những chương trình có tính chất dài hạn về cơ cấu tổ chức bao gồm cả việc hợp tác về kỹ thuật và vật chất với các giới chức quản lý trại giam.

Bảo vệ dân thường

Trong xung đột vũ trang hiện nay dân thường thường phải chịu những đối xử khủng khiếp đôi khi còn là mục tiêu trực tiếp. Họ dễ dàng bị tàn sát bắt làm con tin hãm hiếp xua đuổi cưỡng bức di cư không được sử dụng nước thực phẩm chăm sóc y tế.

Luật Nhân đạo được xây dựng trên nguyên tắc người không tham chiến và dân thường phải được miễn trừ (không bị làm hại). Công ước Geneva IV năm 1949 và Nghị định thư bổ sung I năm 1977 có những điều khoản đặc biệt bảo vệ con người và tài sản dân sự trong các cuộc xung đột vũ trang quốc tế. Điều khoản 3 chung cho 4 Công ước Geneva quy định việc bảo vệ dân thường trong xung đột vũ trang không mang tính quốc tế.

Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế luôn luôn có mặt tại những nơi dân thường có nguy cơ đặc biệt người của Ủy ban duy trì thường xuyên việc đối thoại với mọi người cầm vũ khí từ các thành viên của quân đội đến quân nổi dậy lực lượng cảnh sát lực lượng bán quân sự hoặc mọi nhóm có tham gia chiến đấu.

Người phải di tản do xung đột

Xung đột vũ trang thường đưa đến việc nhân dân di tản ồ ạt có thể trong phạm vi nước có chiến sự hay tràn ra ngoài biên giới. Thường họ không mang theo được tài sản phải đi nhiều ngày hầu hết là đi bộ để tìm chỗ tạm trú khỏi vùng chiến sự. Gia đình có thể bị ly tán trẻ em mất liên lạc với cha mẹ tronng sự náo loạn tháo chạy người già bị bỏ rơi. Người di tản mất sinh kế chỉ còn trông nhờ ít nhất trong thời gian đầu tiên vào lòng tốt của nơi tiếp nhận và của các tổ chức nhân đạo để tồn tại.

Khi người dân di tản trong lãnh thổ của nước mình thì họ được xem như một bộ phận của những người bị nạn và cần được bảo hộ theo Luật Nhân đạo và được các chương trình của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế bảo vệ và giúp đỡ.

Do tình trạng cực kỳ bấp bênh của họ người di tản bên trong lãnh thổ các quốc gia chiếm một tỷ lệ lớn trong số đối tượng hưởng lợi từ các hoạt động của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế. Khi tình hình vượt quá khả năng của nhà chức trách địa phương Ủy ban sẽ can thiệp nhằm cứu trợ những thứ thiết yếu nhất.

Tuy nhiên cần lưu ý là các cộng đồng tiếp nhận phải tận dụng các nguồn lực của mình để cưu mang người mới đến do đó họ cũng trở nên dễ tổn thương và những kẻ bị bỏ lại cũng phải đối mặt với những nguy hiểm và khó khăn cùng cực. Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế phải đặt mình trong bức tranh toàn cảnh đó để xác định các đối tượng hưởng lợi cho các chương trình cứu trợ.

Người di cư khi đã vượt biên giới sang nước khác thì gọi là tỵ nạn họ được Tổ chức Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tỵ nạn bảo vệ và giúp đỡ. Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế chỉ hành động khi người tỵ nạn được Luật Nhân đạo bảo hộ hoặc khi cần có sự can thiệp mang tính chất trung lập và độc lập (ví dụ khi trại tỵ nạn bị tấn công). Ủy ban cũng phục vụ chuyển các tin nhắn Chữ thập đỏ để giúp người tỵ nạn tái lập liên lạc với gia đình ly tán do xung đột gây ra (xem thêm phần Phục hồi liên lạc gia đình).

Việc vi phạm Luật Nhân đạo thường là nguyên nhân khiến người dân phải di tản cho nên trong hoạt động của mình Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế luôn chủ trương cần phổ biến và khuyến cáo sự tôn trọng Luật Nhân đạo để ngăn ngừa di tản (xem thêm phần Hành động ngăn ngừa).

Phụ nữ và chiến tranh

Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế xem việc giúp đỡ phụ nữ trong xung đột vũ trang là một phần trong trách nhiệm bảo vệ nạn nhân các cuộc xung đột. Tuy nhiên do phụ nữ có những nhu cầu riêng về bảo vệ chăm sóc sức khỏe và giúp đỡ Ủy ban tập trung đảm bảo các nhu cầu riêng đó cần được đáp ứng đúng đắn và phù hợp. Ủy ban đã chính thức cam kết phải đặc biệt bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái và lưu ý các lực lượng tham chiến rằng bạo lực tình dục bất kỳ dưới hình thức nào cũng phải ngăn chặn và bị Luật Nhân đạo nghiêm cấm. Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế cũng đã xuất bản kết quả một cuộc nghiên cứu về tác động của chiến tranh đối với phụ nữ.

Với tính cách là dân thường thì phụ nữ và trẻ em gái thường chịu đựng chiến tranh nhiều nhất và thường là nạn nhân của các hành động bạo lực như là:

  • Bị thương hay tử vong do lực lượng vũ trang tấn công bừa bãi và mìn gài tràn lan;

  • Thiếu thốn các phương tiện sinh sống cơ bản và chăm sóc y tế;

  • Các phương tiện giúp đỡ bản thân và gia đình quá hạn chế.

Phụ nữ trẻ em gái cũng như nam giới và trẻ em nam trong xung đột có thể bị mất tích bắt làm con tin tra tấn tù đày bắt đi lính và buộc phải di tản.

Riêng phụ nữ trẻ em gái còn có nguy cơ bị hãm hiếp. Nhiều khi việc hãm hiếp cưỡng bức tình dục còn được sử dụng như một phương tiện chiến tranh để khủng bố và làm nhục kẻ thù. Hiếp dâm bắt buộc mại dâm nô lệ tình dục cưỡng bức có thai hoặc cưỡng bức phá thai đều bị Luật Nhân đạo coi là những hành động ghê tởm làm tổn thương đến cuộc sống thể chất và tâm lý của con người.

Luật công nhận sự bảo vệ đặc biệt đối với phụ nữ theo những nhu cầu riêng biệt của nữ giới.

Nếu bị bắt khi đang tích cực tham gia trong chiến tranh trực tiếp chiến đấu trong quân đội hoặc đang hỗ trợ chồng con chiến đấu thì phụ nữ phải được hưởng sự bảo hộ ngang bằng với nam giới theo Luật Nhân đạo Quốc tế.

Bảo vệ người bị giam giữ

Công ước Geneva quy định trong xung đột vũ trang quốc tế người của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế có quyền thăm hỏi tù binh và những dân thường bị quản thúc. Ngăn cản việc thi hành nhiệm vụ của họ là vi phạm Luật Nhân đạo.

Điều 3 chung cho 4 Công ước Geneva và Nghị định thư bổ sung II áp dụng cho các xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế. Trong các tình huống bạo loạn nội bộ quy chế của Phong trào cho phép Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế có thể đề nghị được thăm hỏi những người bị giam giữ và nhiều chính phủ đã chấp nhận điều này.

Mất tự do: Một tổn thương nghiêm trọng

Mất tự do đẩy con người đến vị trí dễ dàng bị tổn thương trước người giam giữ họ và trong môi trường nhà tù. Tình cảnh này càng tăng lên trong thời gian có xung đột và bạo loạn nội bộ do việc sử dụng vũ lực quá mức và bất hợp pháp là điều thường thấy và do các yếu kém trong cơ cấu tổ chức càng trở nên tồi tệ hơn.

Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế hoạt động để:

  • Ngăn ngừa hoặc chấm dứt các hành động thủ tiêu và hành hình bất hợp pháp tra tấn và đối xử tàn bạo;

  • Phục hồi sự liên lạc của gia đình khi bị cắt đứt;

  • Cải thiện điều kiện giam giữ nếu cần.

Ủy ban thực hiện các nội dung trên bằng cách đi thăm các nơi giam giữ. Trên cơ sở các phát hiện Ủy ban đối thoại riêng với nhà chức trách và nếu cần thiết sẽ giúp đỡ về vật chất và y tế cho những người bị giam giữ. Trong khi thăm đại diện Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế nói chuyện riêng với từng tù nhân ghi chép các chi tiết của họ để có thể theo dõi cho đến ngày họ được tha. Tù nhân kể lại tất cả những vấn đề về nhân đạo có thể xảy ra cho họ.

Tuy tránh không đi sâu vào những lý do họ bị bắt giữ Ủy ban cố gắng đảm bảo để tù nhân được xét xử hợp pháp như Luật Nhân đạo đã quy định.

Điều kiện đi thăm của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế

Trước khi đến thăm các nơi giam giữ Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế nộp cho nhà chức trách một số điều kiện chuẩn mực. Đại diện của ủy ban cần được phép:

  • Gặp tất cả những người bị giam giữ theo quy định mà Ủy ban được ủy quyền và thăm mọi nơi mà họ bị giam;

  • Được phỏng vấn các người bị giam do Đại diện chọn mà không có người khác chứng kiến;

  • Lên danh sách số người bị giam giữ theo quy định mà Ủy ban được ủy quyền hoặc nhận được bản danh sách đó của nhà chức trách

  • Trở lại thăm hỏi nhiều lần tùy theo cần thiết;

  • Phục hồi liên lạc với gia đình;

  • Cung cấp các phương tiện cấp thiết và chăm sóc thuốc men nếu cần thiết.

Phục hồi liên lạc với gia đình

Trung tâm tìm kiếm của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế có nhiệm vụ phục hồi liên lạc cho các gia đình trong mọi trường hợp xung đột vũ trang hoặc bạo loạn nội bộ. Hàng năm có hàng trăm ngàn yêu cầu được gửi đến Trung tâm để tìm kiếm người di tản tỵ nạn bị giam giữ hoặc mất tích. Những trường hợp tìm kiếm được sẽ có may mắn nhận được tin hoặc gửi tin Chữ thập đỏ qua Ủy ban hoặc được tiếp xúc với người thân gia đình thực hiện qua hệ thống rộng khắp toàn cầu do Ủy ban tổ chức và bao gồm hơn 180 Hội CTĐ-TLLĐ quốc gia.

Mối liên lạc với bên ngoài

Trong xung đột vũ trang quốc tế Trung tâm tìm kiếm của Ủy ban theo sự ủy thác của Luật Nhân đạo để tiến hành nhiệm vụ thu thập xử lý và chuyển thông tin liên quan đến những người được bảo hộ đặc biệt là tù nhân chiến tranh và dân thường bị quản thúc.

Quan trọng nhất đối với người bị giam giữ và gia đình họ là nhận được tin tức người thân. Trong nhiều hoàn cảnh Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế tạo điều kiện cho tù nhân chiến tranh dân thường bị quản thúc những người bị giam giữ vì lý do an ninh và đôi khi cả thường phạm được liên lạc với thân nhân của họ.

Gia đình ly tán

Bảo vệ đoàn tụ gia đình là một quyền lợi được luật pháp công nhận ở mọi nước. Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế làm hết sức để đoàn tụ những gia đình bị chia cắt trong chiến tranh chú ý những trường hợp đặc biệt dễ bị tổn thương như trẻ em không có ai đi kèm hoặc người già.

Đôi khi một giấy thông hành của Ủy ban là phương tiện duy nhất để một người không có giấy tờ gì tìm về được với gia đình họ ở một nước thứ ba hoặc trở lại quê quán. Số lượng người tỵ nạn và tìm nơi cư trú ngày một tăng Ủy ban phải tăng số lượng cung cấp các giấy thông hành cho những người được quyền đến một nước tiếp nhận.

Người mất tích

Ngay cả khi đã im tiếng súng chiến tranh vẫn để lại các gia đình có người thân mất tích. Họ còn sống bị thương hay đang bị giam giữ? Các gia đình có quyền được biết. Luật Nhân đạo bắt buộc các bên tham chiến trả lời những câu hỏi đó. Ủy ban giúp đỡ tiến hành thu thập các thông tin về người mất tích hoặc thiết lập những cơ chế tại chỗ để cùng với các nhà chức trách nhằm xác minh số phận những người mất tích để thông báo cho gia đình họ.

4.2. Giúp đỡ nạn nhân trong xung đột

Công việc cứu trợ nhân đạo khẩn cấp ngày nay có đặc thù là sự bùng phát của bạo lực thường hay hướng vào dân thường. Đôi khi bạo lực lại trùng hợp hoặc là nguyên nhân gián tiếp của những khủng hoảng khác như nạn đói dịch bệnh biến động kinh tế. Hậu quả là đẩy dân thường đến sự nguy hiểm tột cùng đòi hỏi phải được giúp đỡ. Do đó Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế có nhiệm vụ đầu tiên là bảo vệ mạng sống và sức khỏe các nạn nhân làm nhẹ đau khổ và đảm bảo những hậu quả do xung đột như bệnh tật thương tật nạn đói và thời tiết khắc nghiệt không làm hủy hoại tương lai của họ.

Trong khi giúp đỡ khẩn cấp để cứu vớt sinh mạng và làm giảm những tác hại xấu nhất của xung đột Ủy ban luôn quan tâm tới mục đích cuối cùng là cố gắng phục hồi khả năng của người dân tự lo liệu cho mình.

Có nhiều hình thức cứu trợ tùy theo địa dư khu vực và tính chất của sự việc. Cứu trợ có thể là cung cấp thực phẩm thuốc men sửa chữa hệ thống nước cơ sở y tế đào tạo nhân viên chăm sóc sức khỏe ban đầu phẫu thuật viên và kỹ thuật viên chỉnh hình.

Trong xung đột đôi khi các bên còn dùng những chiến thuật trái với luật lệ như bao vây tiếp tế lương thực và nhu yếu phẩm phá hoại hệ thống nước phá hoại mùa màng và cơ sở hạ tầng. Trong những trường hợp đó trước khi tiến hành việc giúp đỡ Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế phải yêu cầu các bên tham chiến chấm dứt những vi phạm đó nhắc nhở họ phải tôn trọng Luật Nhân đạo Quốc tế.

Trước khi thực hiện các chương trình giúp đỡ Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế phải điều tra cẩn thận nhu cầu của từng nhóm đối tượng trong hoàn cảnh thực tế để có biện pháp phù hợp. Ngoài ra Ủy ban cũng cần có đảm bảo chắc chắn rằng hàng viện trợ sẽ được phân phối đúng theo các nguyên tắc nhân đạo vô tư và trung lập.

Để rút kinh nghiệm cải tiến hoạt động cứu trợ Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế luôn phải kiểm tra từng chương trình cẩn thận làm cho chương trình phù hợp với hoàn cảnh và khi hoàn thành sẽ có lượng giá có những bài học để làm tốt hơn sau này. Chủ trương đánh giá của Ủy ban cần phải thực hiện cho mọi hoạt động không riêng gì hoạt động cứu trợ nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu đa dạng giúp đỡ các nạn nhân trong xung đột.

Đảm bảo về kinh tế

Đảm bảo về kinh tế có nghĩa là làm cho một hộ gia đình có khả năng tự giải quyết những nhu cầu kinh tế cơ bản. Trong xung đột vũ trang hoặc khủng hoảng thường xảy ra di tản trộm cắp phá hoại tài sản và hạ tầng cơ sở làm cho các hộ gia đình không còn có khả năng tự túc mà phải trông chờ sự viện trợ từ ngoài.

Trong bối cảnh xung đột vũ trang Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế tập trung vào tạo dựng sự năng động của kinh tế gia đình và quan tâm cả hai mặt vừa giúp phương tiện sản xuất để đáp ứng các nhu cầu kinh tế cơ bản của hộ gia đình vừa cung cấp nguồn lực để giải quyết các nhu cầu đó. Tuy cũng còn có những nhu cầu quan trọng hơn các thứ khác như lương thực và nước là cơ bản nhưng trong khủng hoảng người ta thường có xu hướng quên rằng con người còn cần thêm những thứ khác ngoài lương thực. Do đó Ủy ban còn chú trọng đến các nhu cầu kinh tế cơ bản khác của gia đình như nhà ở áo quần dụng cụ nấu ăn chất đốt.

Tùy theo mức độ thiệt hại về nhu cầu kinh tế Ủy ban thực hiện ba loại giúp đỡ:

  • Cứu trợ đời sống: bảo vệ đời sống nạn nhân bằng cách giúp họ có được những hàng hóa thiết yếu để sống mà họ không có khả năng tự giải quyết.

  • Hỗ trợ kinh tế: giúp nạn nhân các phương tiện sản xuất thiết yếu của đời sống gia đình có thể duy trì năng lực sản xuất tự túc ở mức độ gia đình.

  • Phục hồi kinh tế: là giúp nạn nhân phục hồi các phương tiện sản xuất tiến tới tự túc.

Chặn đứng vòng xoáy xuống dốc...

Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế có hành động ngay khi thấy có dấu hiệu sớm nhất về một cuộc khủng hoảng bằng cách nhắc nhở các nhà chức trách về nghĩa vụ bảo vệ những người không tham chíên và dân thường theo Luật Nhân đạo tôn trọng nhân thân và tài sản của họ. Nếu vấn đề kinh tế như nghèo đói xảy ra cho dân chúng và họ không còn đủ phương tiện sản xuất thì Ủy ban giúp đỡ theo cách hỗ trợ kinh tế.

Kể cả cung cấp lương thực giúp phương tiện sản xuất và dịch vụ thú y để bảo vệ gia súc. Chỗ nào có điều kiện thì giúp ưu tiên các hoạt động hỗ trợ kinh tế. Ủy ban không có khả năng ngăn ngừa sự bần cùng hóa do xung đột gây ra nhưng khi cần sẽ giúp cứu trợ đời sống như viện trợ hàng hóa thiết yếu mà nạn nhân không còn khả năng sản xuất được.

Và nâng dần lên...

Nhân dân có nhu cầu được giúp đỡ để phục hồi sự tự lực của họ khi giai đoạn cứu trợ khẩn cấp đã hoàn thành nên chương trình phục hồi kinh tế của Ủy ban nhằm vực dậy và tăng cường các phương tiện sản xuất như phân phối hạt giống nông cụ ngư cụ thuốc thú y sửa chữa hệ thống tưới tiêu phục vụ nhu cầu của cả người dân địa phương và người di tản.

Vượt qua và thoát ra

Trước đây cứu trợ khẩn cấp và các chương trình phát triển thường được tách làm hai lĩnh vực và yêu cầu những biện pháp khác nhau. Nay thì xu hướng chung là chấp nhận có những liên quan với nhau và nên lồng ghép để có một cách tiếp cận rộng rãi hơn về cứu trợ nhân đạo. Do đó khi việc phục hồi kinh tế được thực hiện thì nên có mối liên kết với những chương trình phát triển để có một bước chuyển tiếp nhẹ nhàng giữa các giai đoạn. Các cơ quan phát triển lúc đó phải có vai trò chỉ đạo khai thác tài nguyên và nhân lực để giảm dần các điểm yếu trong cơ cấu có khả năng châm ngòi cho khủng hoảng.

Nước và nhà ở

Chương trình nước và nhà ở của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế nhằm:

  • Đảm bảo cho nạn nhân chiến tranh có đủ nước uống và nước sinh hoạt;

  • Bảo vệ nhân dân chống lại các hiểm nguy của môi trường do mất nước và không có nhà ở.

Nhà ở không chỉ đơn thuần là bên trong phạm vi căn nhà mà còn là mối quan hệ giữa môi trường rộng lớn hơn và con người sống trong đó.

Ngay trong thời bình hàng triệu người trên thế giới ngày nay vẫn gặp khó khăn về nước sạch chỗ ở và điều kiện vệ sinh. Khi có chiến tranh vấn đề càng trở nên cấp bách khi cơ sở hạ tầng bị tàn phá dân di tản hàng loạt khiến cho hàng triệu người chịu nguy cơ tử vong và bệnh tật. Trong trận chiến nguồn nước có thể là mục tiêu nhân dân phải bỏ nhà tìm kiếm nước ở những nơi nguy hiểm hoặc hệ thống nước có thể bị phá hoại.

Bi kịch càng tăng với nguy cơ bùng nổ các bệnh do nguồn nướ như tiêu chảy dịch tả thương hàn. Thiếu nước sẽ ảnh hưởng tới trồng trọt mùa màng tăng đói kém bắt buộc dân phải di cư và ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước. Bởi những lý do trên các tổ chức nhân đạo phải ưu tiên đảm bảo việc cung cấp nước và chỗ ở.

Để cung cấp nước và cải thiện điều kiện vệ sinh bảo vệ môi trường Ủy ban có hàng loạt hoạt động như sau:

  • Phục hồi các nhà máy xử lý nước các trạm bơm nước và phân phối nước;

  • Đào giếng nước khai thác và bảo vệ các nguồn nước và hệ thống tưới tiêu xây dựng các bể chứa nước;

  • Làm sạch nước và phân phối nước sạch;

  • Xây dựng và phục hồi các nhà xí và hệ thống xử lý nước thải thu gom và xử lý rác thải kể cả rác thải bệnh viện;

  • Phục hồi và xây dựng các cơ sở y tế và trường học;

  • Cải thiện điều kiện các trại giam để tù nhân được có nước và điều kiện vệ sinh và sinh hoạt tối thiểu;

  • Tổ chức các trại cho người di tản;

  • Tiến hành các chương trình kiểm tra vật trung gian truyền bệnh bảo vệ kho lương thực thực phẩm khử trùng nhà ở giảm sử dụng năng lượng dùng các loại năng lượng thay thế.

Công tác y tế

Mục tiêu chương trình y tế của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế là bảo đảm cho nạn nhân chiến tranh được hưởng các biện pháp phòng và chữa bệnh theo chuẩn được thế giới chấp nhận.

Do ảnh hưởng của xung đột người dân có thể bị giết bị thương bị buộc phải bỏ nhà cửa bệnh viện bị tàn phá hoạt động tiếp tế thuốc men bị ngưng trệ. Vào đỉnh cao của chiến tranh số người bị thương bị suy dinh dưỡng mắc bệnh có thể tăng cao đến mức khả năng của y tế tại chỗ không thể phục vụ được nữa.

Mặt khác hậu quả gián tiếp của chiến tranh của việc các cơ sở y tế bị tàn phá thiếu đội ngũ cán bộ y tế giỏi thiếu thuốc men trang bị y tế là những hoạt động phục vụ y tế cơ bản như chăm sóc tiền sản tiêm chủng phẫu thuật điều trị đều không còn tồn tại. Vì thế phải nhanh chóng giúp đỡ phục hồi hệ thống y tế để việc chăm sóc sớm trở lại hoạt động bình thường đáp ứng những nhu cầu cấp thiết nhất.

Vấn đề chăm sóc sức khỏe

Các hoạt động liên quan đến y tế của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế bao gồm:

  • Xây dựng và phục hồi các cơ sở;

  • Hỗ trợ công tác quản lý;

  • Đào tạo cán bộ;

  • Kiểm tra dịch tễ;

  • Phục hồi hoạt động tiêm chủng;

  • Cung cấp thuốc và dụng cụ y tế thiết yếu;

  • Sử dụng các đội phẫu thuật hoặc nhân viên y tế nước ngoài.

Để đối phó với sự tan rã của màng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu do xung đột gây ra Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế trực tiếp giúp các trạm y tế cơ sở các bệnh viện tuyến huyện với sự tham gia của cộng đồng tại chỗ. Nếu có nạn đói xảy ra có thể thành lập các trung tâm chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em bị suy dinh dưỡng. Trẻ em suy dinh dưỡng ngoài nguy cơ bị chết vì đói thì cũng còn là nạn nhân của nhiều bệnh tật và các bệnh truyền nhiễm.

Ngoại khoa chiến tranh

Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế có nhiều kinh nghiệm về điều trị các thương tích chiến tranh. Các phẫu thuật viên của Ủy ban huấn luyện các cán bộ y tế các nước tình nguyện đến giúp đỡ làm công tác nhân đạo nhưng chưa quen với những đặc điểm của công việc nơi chiến trường. Họ cũng đào tạo cán bộ y tế địa phương để tiếp tục công tác khi đoàn rút đi. Hàng năm đều có mở các khóa học quốc tế như khóa Y tế khẩn cấp trong cấp cứu hàng loạt để trao đổi kinh nghiệm. Các bác sĩ của Ủy ban cũng xuất bản các sách về ngoại khoa chiến tranh và tham gia viết trong các tạp chí khoa học.

Trong môi trường không an toàn thường gặp khó khăn khi tiếp cận người bị thương và di chuyển họ đến bệnh viện. Ủy ban thường phối hợp với các Hội CTĐ-TLLĐ địa phương phát triển các chương trình xây dựng các trạm cấp cứu và vận chuyển người bị thương.

Ủy ban cũng giúp tăng cường năng lực cho các Hội quốc gia để đáp ứng tình hình khẩn cấp như mở các khóa học về sơ cấp cứu cho tình nguyện viên về tổ chức cũng như về kỹ năng cung cấp thêm trang thiết bị thông tin xe cấp cứu y tế để đối phó với các tình huống khẩn cấp.

Y tế trong nhà tù

Các cán bộ y tế của Ủy ban luôn luôn tháp tùng các đoàn đại diện đi thăm hỏi các nhà tù để tìm hiểu tình trạng sức khỏe tù nhân và phát hiện những hậu quả ngược đãi cả về thể chất lẫn tâm lý. Những bác sĩ y tá đi thăm tù nhân đều nắm vững các vấn đề đặc thù y tế nhà giam như vệ sinh dịch tễ dinh dưỡng thiếu vitamin. Họ phát hiện những vấn đề ưu tiên về sức khỏe của tù nhân cần giải quyết. Khi tình hình sức khỏe tại các nhà tù gặp nhiều khó khăn mà y tế của trại giam không giải quyết nổi thì Ủy ban sẽ có các chương trình hỗ trợ như giám sát vật trung gian truyền bệnh và giải quyết các bệnh như lao HIV/AIDS thiếu vitamin.

Về vấn đề sức khỏe tù nhân cũng cần có những hiểu biết đặc thù để xác định họ có là nạn nhân của sự tra tấn đối xử độc ác vô nhân đạo hoặc làm hạ nhân phẩm.

Bước đi và trở lại lao động

Những thương tích do mìn và các vũ khí nổ khác thường khiến phải cắt cụt chi gây ra tàn phế trầm trọng và ảnh hưởng tâm lý. Các vết thương chiến tranh như vậy đòi hỏi điều trị bằng những phương pháp ngoại khoa đặc biệt và săn sóc hậu phẫu lâu dài phục hồi chức năng và trợ giúp tâm lý. Không phải nước nào cũng có đủ điều kiện nói trên để chăm sóc người tàn tật do chiến tranh nên Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế đã thành lập khoảng 30 Trung tâm chỉnh hình trên thế giới sản xuất chân tay giả và xe đẩy để giúp các nạn nhân có thể đi lại và trong nhiều trường hợp tự lực về kinh tế. Trong thời gian đầu tiên Ủy ban chú ý việc sử dụng các nguyên liệu phù hợp và huấn luyện cho cán bộ địa phương tự sản xuất các bộ phận thay thế và các dụng cụ mới.

Khi hòa bình lập lại thì có thể tổ chức chuyển giao những xưởng chỉnh hình được trang bị đầy đủ cả về nhân viên lẫn thiết bị cho giới chức y tế địa phương.

4.3. Phổ biến Luật

Công tác phòng ngừa của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế là nhằm ngăn chặn những hậu quả tai hại của xung đột vũ trang và làm giảm đến tối thiểu hậu quả. Tinh thần cơ bản của Luật Nhân đạo Quốc tế là sử dụng vũ lực một cách hạn chế và phù hợp với mục tiêu. Do đó Ủy ban chủ trương phổ biến toàn bộ những nguyên tắc nhân đạo để dự phòng hoặc ít nhất để hạn chế những tác động quá đáng và tệ hại nhất của chiến tranh.

Phòng ngừa bằng thông tin

Các chương trình phòng ngừa của Ủy ban đều tập trung đặc biệt vào những đối tượng có quyền quyết định số phận những nạn nhân hoặc ngăn cản hay tạo thuận lợi cho hoạt động của Ủy ban như các lực lượng vũ trang cảnh sát an ninh những người sử dụng vũ khí các nhà quyết định chính sách hoặc lãnh đạo dư luận địa phương và quốc tế; và để nhằm vào tương lai Ủy ban còn chú ý nhằm cả thanh thiếu niên học sinh sinh viên và giáo viên.

Chiến lược của hoạt động phòng ngừa gồm 3 mức độ:

  • Gây dựng ý thức;

  • Phổ biến Luật Nhân đạo qua huấn luyện;

  • Lồng ghép Luật Nhân đạo vào các chương trình ðào tạo chính thức về luật pháp giáo dục.

Mục tiêu cuối cùng là tác động đến thái độ và hành vi của quần chúng để tăng cường bảo vệ cho dân thường và các nạn nhân khác trong thời gian chiến tranh tạo thuận lợi cho việc tiếp cận nạn nhân và cải thiện an ninh cho hoạt động nhân đạo.

Nhằm mục đích đó Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế đã phát triển nhiều công cụ giảng dạy tập huấn và gây dựng ý thức dành cho những giới khác nhau ví dụ:

  • Tập tài liệu giảng dạy dành cho huấn luyện viên quân đội;

  • Sổ tay dành cho lực lượng an ninh và cảnh sát;

  • Bộ dụng cụ sư phạm để giảng dạy Luật Nhân đạo Quốc tế (LNĐQT) ở trung học và đại học;

  • Sổ tay dành cho nghị sĩ quốc hội về việc thực hiện LNĐQT ở cấp quốc gia.

Tôn trọng và đảm bảo tôn trọng

More...

Nguyên tắc sơ cấp cứu chấn thương

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh


Chấn thương là một trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong hiện nay. Các tai nạn thương tích mỗi năm cướp đi sinh mạng của 5 triệu người trên thế giới. Việc cấp cứu ban đầu rất quan trọng trong đó có vai trò của các cộng tác viên và cộng đồng khi xảy ra tai nạn đặc biệt khi tai nạn xảy ra xa các cơ sở y tế chưa có nhân viên y tế tiếp cận cứu chữa nạn nhân.

Nguyên tắc chung

Khi hiện trường xảy ra tai nạn nếu được gọi đến cấp cứu trước tiên phải kiểm tra hiện trường xung quanh nạn nhân. Các yếu tố nguy hiểm gây tai nạn hoặc có nguy cơ gây tai nạn cần được loại bỏ hoặc phải tránh để có thể vừa cứu được nạn nhân vừa bảo vệ được bản thân.


Khi cấp cứu nên gọi thêm người đến hỗ trợ vì có các tổn thương không tự bản thân xử trí được nếu chỉ có một mình ngay cả trường hợp người đến cấp cứu là nhân viên y tế.


Đưa nạn nhân ra chỗ an toàn thoáng cao ráo để có thể thực hiện cứu chữa sơ bộ ban đầu có hiệu quả.


Nguyên tắc đưa nạn nhân ra khỏi đống đổ nát hoặc xe đổ ... cần có tối thiểu hai người kéo nạn nhân từ phía sau luồn tay vào nách nạn nhân để kéo luôn lưu ý giữ cổ thẳng và bảo vệ cột sống lưng.


Xử trí cấp cứu sơ bộ


Trước hết giống như các chấn thương khác chấn thương bụng cần được xử trí cơ bản với các nguyên tắc về cấp cứu ban đầu: ABCDE (theo Hiệp hội Cấp cứu chấn thương Quốc tế - Primary Trauma Care Foundation).


Xử trí ban đầu chỉ thực hiện trong 2 phút tiến hành xử trí ngay sau khi phát hiện thương tổn và nhắc lại đánh giá bất cứ lúc nào khi bệnh nhân không ổn định. Các bước xử trí ban đầu ABCDE bao gồm:


Airway (A): Đường thở


Trong xử trí đường thở trước hết cần nhận biết nếu bệnh nhân tỉnh còn tiếp xúc được hay không? Nếu có tắc nghẽn cần thực hiện ngay lập tức các động tác sau :


+ Nghiêng người ghé sát miệng nạn nhân để nghe xem còn thở không.


+ Mở miệng kiểm tra xem có đờm rãi dị vật phải móc lấy sạch. Nếu nạn nhân còn khó thở cần phải kiểm tra xem có phải do lưỡi tụt đè vào tiến hành kéo lưỡi.


+ Nâng cằm đẩy hàm giữ cho đường thở được thông thẳng trục.


+ Thông khí đường miệng hoặc đường mũi.


Breathing (B) : Hô hấp


Đánh giá rối loạn hô hấp dựa vào tần số thở gắng sức hô hấp xem trên ngực có vết thương không đặc biệt các trường hợp có thể xử trí được ngay tại chỗ trong khi chờ đợi nhân viên y tế đến nhất là khi:


+ Nạn nhân có ngừng thở tím tái. Trường hợp có ngừng thở hoặc đe dọa ngừng thở phải tiến hành ngay hô hấp nhân tạo miệng - miệng hoặc miệng - mũi.


+ Tổn thương ngực hở rộng đặt ngay miếng gạc lớn hoặc lấy quần áo sạch đặt lên vết thương và băng kín mục đích cầm máu và hạn chế khí tràn vào khoang ngực càng làm cho nạn nhân khó thở. Tuyệt đối không lấy bỏ dị vật đang cắm trên ngực nguy cơ sẽ gây chảy máu ồ ạt làm nạn nhân có thể tử vong nhanh chóng do chảy máu từ các mạch lớn.


Circulation (C) : Tuần hoàn


Trong khi đánh giá và xử trí tuần hoàn luôn kiểm tra tiếp tục đường thở và hô hấp. Đối với tuần hoàn cần xác định shock (sốc) và kiểm soát chảy máu.


Đánh giá tuần hoàn dựa vào :
 

+ Mạch ngoại vi ở cổ tay vùng cổ hay bẹn: khó bắt hoặc không bắt được.


+ Bệnh nhân có dấu hiệu lơ mơ da nhợt vã mồ hôi đó là dấu hiệu shock mất máu.


Chúng ta chỉ có thể kiểm soát chảy máu bên ngoài còn chảy máu bên trong nhất thiết phải có can thiệp phẫu thuật mới kiểm soát được.


+ Biện pháp cầm máu như băng ép hoặc ép chặt vào chỗ đang chảy máu bằng quần áo hoặc có băng gạc sạch vô khuẩn càng tốt giữ nguyên cho đến khi nhân viên y tế đến tuyệt đối không bỏ tay đang giữ ép ra hoặc bỏ gạc đang giữ để thay gạc mới sẽ làm cho máu chảy càng mạnh hơn và khó cầm.


+ Nâng cao chi chảy máu so với mức tim và giữ nguyên ngoài ra khi nâng cao chi có tác dụng làm cho máu dồn về tim não.


+ Chỉ đặt garo nếu chi đã cắt cụt và còn đang tiếp tục chảy máu.


+ Trường hợp nạn nhân có ngừng tim cần tiến hành hồi sức tim phổi bằng ép tim ngoài lồng ngực. Tiến hành 2 người là tốt nhất vừa hô hấp vừa ép tim ngoài lồng ngực.


Disability (D) : Thần kinh


Cần đánh giá nhanh tổn thương hệ thần kinh qua cách đánh giá nhanh như sau:


+ A - Awake - tỉnh: nạn nhân tỉnh và giao tiếp được bình thường.


+ V - Verbal response: đáp ứng bằng lời khi hỏi.


+ P - Painful response: đáp ứng bằng kích thích đau chỉ áp dụng khi mà hỏi thì không thấy trả lời.


+ U - Unresponsive: không đáp ứng bằng hỏi hoặc kích thích đau khi đó nạn nhân đã hôn mê sâu và tiên lượng rất xấu nên vận chuyển sớm đến cơ sở y tế để được chăm sóc.


Trong các trường hợp tai nạn thương tích có tới 50% các nạn nhân chết tại chỗ do tổn thương quá nặng khoảng 30% chết trong vài giờ sau do các biến chứng không được xử trí đúng cách và kịp thời còn lại 20% chết sau vài ngày vì các nhiễm khuẩn biến chứng ... Các trường hợp tổn thương quá nặng ngay cả nhân viên y tế có các phương tiện cấp cứu cũng không thể cứu được. Tuy nhiên nếu chúng ta biết các nguyên tắc cấp cứu ban đầu và làm đúng cách kịp thời sẽ làm ổn định nạn nhân trong khi chờ đợi nhân viên y tế tới ứng cứu góp phần cứu sống nạn nhân hạn chế biến chứng. Các bước cấp cứu ABCDE đều quan trọng phải làm nhanh và đúng thứ tự trong đó đặc biệt các bước ABC.


Trường hợp chấn thương sọ não kín nếu nạn nhân không tỉnh hoặc theo các mức độ đánh giá trên từ mức độ V là có biểu hiện tổn thương. Ngoài ra khi bệnh nhân đang tỉnh sau một lúc mê hoặc có thay đổi mức độ như trên thường có tiếp tục chảy máu trong hộp sọ.


Nếu trường hợp nạn nhân có tổn thương ở đầu hay rách da vỡ xương thậm chí thấy chảy dịch trong (nước não tủy) hoặc phòi tổ chức não chỉ nên dùng gạc sạch hoặc quần áo sạch băng lên trên tuyệt đối không bôi bất cứ thuốc men gì không rút các dị vật còn cắm tại đó ra.


Exposure (E): Bộc lộ toàn thân


Một nguyên tắc trong khám và đánh giá sơ bộ tổn thương trong cấp cứu ban đầu là phải cởi bỏ toàn bộ áo quần bệnh nhân để kiểm tra các tổn thương khác để xử trí. Nếu bệnh nhân nghi ngờ có tổn thương cột sống cổ hoặc thắt lưng nên lưu ý bất động trong quá trình kiểm tra. Khi bộc lộ lưu ý làm hạ thân nhiệt nhất là mùa đông nên phải làm nhanh và sau đó che phủ ngay cho nạn nhân.


Lưu ý kiểm tra xem có máu chảy ra từ miệng sáo. Ở phụ nữ cần lưu ý xem có thai hay không. Ngoài ra xem nạn nhân có nôn ra máu đi ngoài ra máu... là có tổn thương đường tiêu hóa. Bệnh nhân cần được bất động trên ván cứng hoặc nền cứng sẽ hạn chế di lệch gây biến chứng nếu có tổn thương cột sống.

                                                    Theo BS. Nguyễn Đức Chính - Sức Khoẻ & Đời Sống

More...

Chảy máu cam và cách xử trí

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh


Hiện tượng này đứng hàng đầu về tần số xuất hiện trong các triệu chứng chảy máu tự phát đường hô hấp trên. Theo y văn thế giới khoảng 60% dân số chảy máu cam ít nhất một lần trong đời; trong đó chỉ 6% cần được chăm sóc y tế.

 

Niêm mạc mũi dễ chảy máu vì có nhiều mạch máu tập trung với mạng lưới mao mạch rất dày. Chảy máu mũi hay gặp nhất ở người trên 40 tuổi (64%) do thành mạch ở độ tuổi này có sức đàn hồi kém. Số bệnh nhân tăng đáng kể trong giai đoạn chuyển mùa vì sự thay đổi thời tiết ảnh hưởng lớn đến một số bệnh toàn thân (như tăng huyết áp dị ứng...) hoặc gây rối loạn vận mạch làm tổn thương niêm mạc hốc mũi.

Ngoài các ca chảy máu mũi do tăng huyết áp chấn thương viêm nhiễm tại chỗ nhiễm trùng toàn thân (sốt do virus viêm gan mạn tính tiểu đường suy thận...) phần lớn trường hợp không xác định được nguyên nhân. Đây là loại chảy máu mũi tự nhiên lượng máu chảy ít tự cầm hay tái diễn thường xảy ra khi gắng sức hoặc đi ngoài trời nắng.

Khi bị chảy máu mũi trước hết nên tìm cách cầm máu khi ổn định mới tiến hành tìm hiểu nguyên nhân. Tại nhà nếu chảy máu nhẹ (máu chảy nhỏ giọt ra phía trước của mũi số lượng ít) nên để người bệnh ngồi cúi về phía trước dùng ngón cái và ngón trỏ bóp chặt hai cánh mũi trong 10 phút máu có thể cầm. Ở những nơi có sẵn lá nhọ nồi hay lá chuối non nên giã nhỏ lá này rồi nhét vào bên mũi chảy máu.

Nếu máu vẫn tiếp tục chảy nhiều ra trước mũi và xuống dưới miệng phải nhớ luôn luôn đùn máu ra phía ngoài miệng tuyệt đối không được nuốt (để tránh chướng bụng và những chất độc do máu phân hủy thành). Cho uống thuốc an thần như Seduxen (nếu có). Nếu ở xa cơ sở y tế có thể tìm đoạn vải dài sạch ấn sâu vào trong hốc mũi chảy máu; sau đó khẩn trương vận chuyển người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất để cầm máu và tìm nguyên nhân để điều trị.

Chảy máu mũi rất hay tái phát. Do đó để phòng tránh bệnh nhân cần thực hiện đúng hướng dẫn của thầy thuốc như: tiếp tục điều trị những viêm nhiễm tại mũi khám và điều trị các nguyên nhân gây chảy máu mũi đã được xác định. 

      
 
ThS Phạm Bích Đào Sức Khỏe & Đời Sống

More...

Bí quyết hạn chế sẹo sau bị thương

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh



Ảnh:jupiterimages.comKhi vết thương vừa lên da non bạn liền chăm chăm bôi nghệ vào hay phải cố kiêng rau muống trứng... vì không muốn có "di chứng" về sau. Thật ra tất cả những cách này đều không đúng khi muốn hạn chế sẹo.

Một vết sẹo trên cơ thể nhất là ở vùng mặt có thể làm bạn giảm tự tin. Nhiều người muốn khắc phục điều này nhưng lại áp dụng không đúng cách khiến cho vết sẹo càng đậm màu hoặc lớn hơn.


Hiện nay cũng có khá nhiều loại thuốc được quảng cáo là làm mờ sẹo hay xóa sẹo nhưng theo tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tuấn Viện Bỏng Trung Ương không loại thuốc nào chống được sẹo mà chúng chỉ có tác dụng hạn chế quá trình tạo sẹo mà thôi. Hơn nữa khi dùng thuốc nhất định bạn phải hỏi ý kiến của bác sĩ.


Bác sĩ Tuấn cũng cho biết hình dạng và kích thước của sẹo hình thành phụ thuộc vào độ nông sâu của vết thương. Nếu vết thương nông sẽ tạo thành sẹo mờ - chỉ là rối loạn sắc tố nên sẽ tự mất đi sau một thời gian. Còn với những vết sẹo to nhất là sẹo lồi sẹo phì đại (sẹo to lồi lên rồi xẹp xuống) sẹo dính sẹo co kéo sẹo loét... thì hầu như không thể mất đi và rất khó khắc phục.


Để hạn chế vết sẹo bạn lưu ý vài điều sau:
 

- Cần xử lý tốt ngay từ lúc bị thương điều trị và vệ sinh đúng cách để cho mau liền.


- Uống nước ép rau má: Loại nước này thanh nhiệt giải độc góp phần điều hòa quá trình lành sẹo khiến vết sẹo mau lành.


- Có thể bôi một số thuốc có thành phần Corticoit nhưng cần hỏi ý kiến bác sĩ.


- Dùng băng ép: lấy băng thun quấn lại (để cả ngày) để vết sẹo xẹp xuống không có cơ hội phát triển thêm. Hiện nay người ta còn dùng kết hợp quấn gạc silicon nhưng khá tốn kém.


- Tập vận động: Để hạn chế vết sẹo bị co kéo dính rất xấu. Những cách vận động và dùng băng ép cần có hướng dẫn cụ thể của bác sĩ chuyên khoa.


- Có thể sử dụng nghệ nhưng cần đúng cách và đúng lúc bởi nếu vội vàng bôi nghệ vào lúc vết thương chưa kịp lên da non có thể làm vết sẹo sau này đen bóng lại.


- Xóa sẹo ở tay và chân bằng cách chà vỏ chanh lên chỗ sẹo 5-7 phút mỗi ngày làm 2 lần/ ngày trong vòng một tuần.


- Ăn uống đủ chất không cần kiêng bất cứ món nào kể cả rau muống trứng...


Ngoài ra khi vết sẹo mới hình thành sáu tháng đầu bạn nên hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời có cực tím (thường lúc 9 giờ sáng đến 15 giờ chiều) nếu không muốn vết sẹo đậm màu bị tổn thương thậm chí là ung thư da.                                    
                                                                            Theo Vnexpress


More...

Xử lý khi bị trúng nắng

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh

Cảm nắng theo y học cổ truyền gọi là "trúng thử". Triệu chứng gồm: đầu óc mơ màng đổ mồ hôi miệng khát buồn nôn chuột rút; nặng hơn thì đột nhiên bất tỉnh hôn mê... đó là do cơ thể bị mất nước và rối loạn chất điện giải.

Xử trí

Khi xuất hiện những triệu chứng trên phải lập tức ngừng việc vào chỗ râm mát và thực hiện ngay các việc sau:

* Nới mở quần áo để cơ thể thông thoáng hạ nhiệt và máu huyết lưu thông được dễ dàng.

* Lấy khăn thấm nước lạnh lau rồi phủ lên người để hạ nhiệt.

* Dùng quạt (điện hoặc tay) quạt cho người bệnh nhất là nơi máu lưu thông nhiều như nách háng cổ để phân tán nhiệt trong cơ thể.

* Cho người bệnh uống nước đậu xanh

Ngay lúc này không nên cho người bệnh uống nhiều nước và thuốc hạ nhiệt có thể gây thêm tổn thương cho gan. Sau khi sơ cứu có thể cho bệnh nhân dùng bài thuốc gồm các vị: tri mẫu 16g thạch cao 20g cam thảo 8g gạo tẻ 20g. Cho 600 ml nước sắc kỹ uống ngày 1 thang có tác dụng sinh khí tư bổ tân dịch.

Phòng trúng nắng

Đề phòng trúng thử bằng các biện pháp sau:

* Tránh đột ngột tiếp xúc với nắng nóng.

* Khi làm việc tiếp xúc trực tiếp với nắng nóng phải cần uống đầy đủ nước; có thể uống nước gạo rang có cho thêm tí muối đường và gừng. Không nên quá gắng sức. Khi cảm thấy mệt mỏi vào chỗ râm mát nghỉ ngơi.

* Mặc quần áo thoáng mát màu nhạt để dễ thấm mồ hôi và thoát nhiệt và tránh hấp thụ nhiệt từ môi trường.

* Làm việc dưới nắng không nên uống rượu cà phê gây đi tiểu nhiều làm mất nước.
                                                                                       
Hoài Vũ

More...

10 cách sơ cấp cứu sai lầm thường gặp và cách xử trí nên làm

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh

10 cách sơ cấp cứu sai lầm thường gặp và cách xử trí nên làm
Trong nhiều trường hợp bị thương bị tai nạn có không ít những cách cần sơ cấp cứu tại chỗ một cách sai lầm khiến cho tình trạng người bị nạn nguy kịch thêm. Sau đây là danh sách liệt kê 10 tai nạn thường gặp trong gia đình và những điều cần làm/ những điều không nên làm trong các trường hợp đó.
 In
 

Image1. Bị đứt lìa tay chân

Không được ướp phần chi bị đứt rời trực tiếp bằng đá lạnh mà nên quấn chúng trong một miếng gạc ẩm bỏ vào một cái túi không thấm nước rồi đặt túi vào thùng đá. Đem phần chi bị đứt đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt để tăng cơ hội nối lại chi cho nạn nhân.

Trong trường hợp nạn nhân sắp sửa bước vào phòng mổ tốt nhất là nên để bụng đói. Đối với vết thương ở tay chân hay trên những bộ phận khác của cơ thể dùng đá chườm để vết thương bớt sưng tấy rồi dùng vải khô sạch băng lại. 

2. Bị gãy răng

Đừng cọ rửa mạnh chiếc răng bị gãy dù nó rất dơ. Chỉ cần giội qua là được. Bỏ chiếc răng bị gãy vào sữa rồi đem đến bệnh viện cùng với nạn nhân. Có thể sẽ còn cơ hội trồng lại chiếc răng đó.

3. Bị bỏng

Không được bôi kem đánh răng mỡ bơ hay bất cứ thứ gì tương tự lên vết bỏng. Cũng đừng phủ khăn hay mền lên vết bỏng hở vì lông trên khăn hay vải mền sẽ bám vào bề mặt vết bỏng và gây nhiễm trùng. Nếu nạn nhân bị bỏng nặng không được chọc vỡ các nốt phồng giộp hoặc gỡ quần áo bị dính trên cơ thể nạn nhân ra khỏi người họ.

Đối với trường hợp bỏng nhẹ nên đặt chỗ bỏng dưới một vòi nước lạnh để làm dịu cơn đau của nạn nhân. Sau đó bôi thuốc trị bỏng. Trong trường hợp bị bỏng ở mắt miệng hay bộ phận sinh dục phải đưa nạn nhân ngay lập tức đến cơ sở y tế gần nhất dù nạn nhân chỉ bị bỏng nhẹ. Nếu vết bỏng rộng hơn 1 bàn tay bị phồng giộp hay kéo theo sốt bạn cũng nên xử trí tương tự.

4. Bị điện giật

Đừng bỏ qua việc sơ cấp cứu bỏng do điện giật dù bạn không nhận thấy dấu hiệu bị bỏng. Điện giật có thể gây bỏng sâu và nghiêm trọng bên trong cơ thể. Ngay lập tức đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

5. Bị bong gân

Không được dùng cao dán hay bôi dầu nóng vì sẽ làm nặng hơn tình trạng xuất huyết dưới da. (Các mạch máu giãn nở và bể ra khi gặp nóng còn khi gặp lạnh chúng sẽ co lại). Nên dùng đá lạnh chườm vào chỗ bị bong gân hay bầm tím. Nếu nạn nhân cảm thấy quá đau cần đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất vì có thể cơn đau đó do chấn thương gãy xương gây ra.

6. Bị chảy máu cam

Không nên ngả người về phía sau. Sau khi mũi hết chảy máu cam đừng khịt mũi hay cúi gập người về trước. Giữ nạn nhân đứng thẳng. Đều đặn ngả người về phía trước và dùng tay kẹp chặt 2 bên cánh mũi ngay đoạn dưới xương sụn mũi trong vòng 5-10 phút. Nếu máu tiếp tục chảy quá 15 phút hoặc nạn nhân cảm nhận đã nuốt quá nhiều máu chảy xuống họng phải lập tức đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

7. Bị chảy máu

Không nên dùng garô để cầm máu vì bạn có thể làm tổn thương các mô tế bào trên cơ thể nạn nhân do garô chặt làm máu không lưu thông được tới các bộ phận lành khác. Nên dùng một chiếc khăn hay gạc sạch đắp và quấn vừa phải lên vết thương đang chảy máu.  Đưa nạn nhân đến cơ sở y tế nếu máu không ngừng chảy vết thương nứt rộng hoặc vết thương do một con vật nào đó cắn. Đừng quên giữ ấm cho nạn nhân để nạn nhân không bị sốc.

8. Bị ngộ độc thực phẩm

Không cố gây nôn hoặc cho nạn nhân uống xi-rô Ipecac trừ phi được các nhân viên cấp cứu hướng dẫn làm như vậy. Gọi cấp cứu và nhớ đem theo thức ăn thức uống mà nạn nhân đã ăn hay đã uống trước đó đến cơ sở y tế để làm xét nghiệm. Tốt nhất là nên đựng thức ăn/thức uống đó bằng chính những vật dụng mà nạn nhân đã sử dụng để chứa. 

9. Bị que cọc đâm vào người

Không được rút que/cọc ra khỏi người nạn nhân vì làm như thế có thể sẽ làm cho que/cọc gây tổn thương nặng hơn hoặc sẽ làm tăng nguy cơ bị chảy rất nhiều máu. Điều cần làm là cố gắng cố định vật đã đâm vào người nạn nhân rồi nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất. 

10. Bị tai biến mạch máu não

Không được đặt bất cứ vật gì lên miệng của nạn nhân và di chuyển nạn nhân nhiều để tránh gây ngạt thở hoặc làm cho mạch máu trong não bị vỡ nhiều hơn. Không được cạo gió hay cắt lễ. Nên đặt nạn nhân nằm trên một mặt phẳng cứng tốt nhất là ở nơi thoáng khí. Nghiêng người nạn nhân sang một bên và lập tức gọi cấp cứu.

TỐ UYÊN
Theo Newsweek


More...

Những tình huống sơ cứu khi trẻ gặp tai nạn

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh

Trẻ nhỏ luôn hiếu động mải chơi và không phải lúc nào người lớn cũng kiểm soát được vì vậy bị tai nạn là chuyện rất có thể xảy ra. Tuy nhiên khi trẻ bị tai nạn người lớn cần hết sức bình tĩnh để tiến hành các sơ cứu ban đầu trước khi đưa trẻ đến bệnh viện.
   

Ngã

Nếu trẻ ngã rồi bất tỉnh nôn ói có máu chảy ra ở miệng hoặc ở mũi ở tai tay chân co giật... phải lập tức đưa trẻ tới phòng cấp cứu. Trong khi di chuyển hoặc chờ đợi bác sĩ tới tránh không di động trẻ. Đặt trẻ nằm thẳng người đầu hơi thấp hơn chân nghiêng mặt về một bên để nếu trẻ nôn ói hay bị chảy máu mũi miệng chất lỏng không vào được trong họng để xuống phổi. Không được cho trẻ uống hay ăn bất cứ thứ gì.

Trẻ bị ngã đập đầu xuống đất nếu trẻ bị ngất dù trong thời gian ngắn cũng phải đưa tới bệnh viện cấp cứu ngay vì dù nhìn bên ngoài chỗ va chạm không có dấu hiệu gì là vết thương nặng nhưng rất có thể trẻ đã bị chấn thương sọ não.   Trong thời gian tiếp theo cần phải chú ý theo dõi xem trẻ có các hiện tượng như: nôn ói sốt co giật sắc mặt tái dần giấc ngủ không yên hoặc ngủ mê mệt không? Trong 24 giờ của ngày đầu cần phải theo dõi liên tục thỉnh thoảng lại gọi xem cháu có tỉnh lại không vì nếu có hiện tượng chảy máu trong não cháu có thể ngủ thiếp đi rồi chuyển qua trạng thái hôn mê. Nếu thấy trẻ có sự thay đổi thái độ đột ngột: Tự nhiên tỏ ra bàng quan với tất cả chung quanh hoặc tự nhiên vật vã kích động mắt nhìn bỗng bị rối loạn có khi nhìn như người lác mắt... phải đưa trẻ tới cơ sở y tế ngay.

Vết thương

Cần phải chú ý xem những vết thương đó to hay nhỏ nông hay sâu chảy máu nhiều hay ít có dính đất cát hoặc vật gì trong vết thương không? Không nên coi thường bất kỳ vết sây sát nào của trẻ em dù là một vết chích nhỏ. Vết thương cần được rửa sạch ngay bằng nước sạch rồi bôi thuốc sát khuẩn như mercurochrom betadin... Nếu vết thương chảy máu nên ấn xuống vết thương để cầm máu rồi băng lại. Phải băng nhẹ tay không chặt quá - vì vết thương cần được "thở" và máu dưới vết thương cần được lưu thông trong mạch. Vết thương nào cũng có thể dẫn tới bệnh uốn ván. Bởi vậy cần cho các cháu tiêm phòng bệnh uốn ván.

Nếu vết thương lớn hãy làm cho vết thương lộ ra bằng cách cởi bỏ hoặc cắt chỗ quần áo đụng vào vết thương. Nếu có những mảnh kim loại mảnh kính sỏi cát chung quanh vết thương hãy lau sạch hoặc gắp bỏ. Buộc vết thương lại bằng một lớp băng dày hoặc đặt lên vết thương một cái khăn sạch rồi ấn tay lên vết thương trong vòng 5 phút. Lúc này việc trước tiên là ngăn sự chảy máu.

Việc rửa sạch hoặc sát khuẩn vết thương sẽ làm sau. Nếu sau khi buộc vết thương máu vẫn không ngừng chảy bạn hãy tìm đường động mạch của cháu bé và ấn mạnh ngón tay xuống một điểm của mạch ở phía trên vết thương (giữa đường từ tim tới vết thương) trong khi đưa cháu tới ngay nơi cấp cứu.

Trường hợp trẻ bị chảy máu mũi hãy cho một miếng gạc hoặc bông vào bên mũi bị thương để làm ngưng chảy máu rồi lấy ngón tay đè nhẹ cánh mũi bị chảy máu lại. Tuyệt đối không ngửa cổ trẻ lên vì như thế không những không cầm được máu mà có thể khiến trẻ bị sặc.   Ảnh minh họa.

Ngộ độc

Đây là một trong những trường hợp cấp cứu thường gặp nhất ở trẻ nhỏ vì trẻ rất dễ uống phải thuốc hoá chất hay bất cứ chất độc nào trẻ lấy được. Vì vậy khi trẻ có các triệu chứng như nôn đau bụng co giật bất tỉnh hay lơ mơ có vết bỏng quanh miệng... thì cần nghĩ ngay trẻ đã bị ngộ độc và tìm cách sơ cứu trước khi chuyển đến bệnh viện.

Đầu tiên cần cho bé nôn ra được chất độc càng nhiều càng tốt bằng cách kích thích vùng nôn ói ở yết hầu. Khi đưa trẻ đến bệnh viện người nhà nên đem theo vỏ chai thuốc hoặc những chất gây độc để bác sĩ dễ dàng chẩn đoán và xử trí kịp thời. Tuy nhiên nếu uống nhầm loại chất gây ăn mòn như axit bazơ thì không nên gây nôn vì như vậy dễ làm chảy máu. Tốt nhất là cho uống nước pha bột than hoạt tính pha theo tỷ lệ 4/1: 4 nước 1 than; liều lượng: 10 g than hoạt tính cho 1 kg cân nặng cơ thể.

Nếu trẻ còn tỉnh hãy cho trẻ uống một cốc sữa hoặc nước không cho uống nước muối hay chanh giấm. Nếu trẻ đã bất tỉnh bạn cần kiểm tra xem trẻ còn thở không. Nếu trẻ ngừng thở cần làm hô hấp nhân tạo nhưng nên đặt một miếng vải mỏng lên trên miệng bé và hà hơi qua tấm vải để tránh cho bản thân không bị nhiễm chất độc từ miệng bé. Nếu trẻ bị bỏng quanh miệng do uống phải hoá chất cần lấy nước sạch rửa da và môi cho bé. Sau khi sơ cứu cần chuyển ngay trẻ tới bệnh viện.

Bỏng

Khi bé bị bỏng hãy nhanh chóng đưa trẻ ra khỏi nguồn gây bỏng rửa sạch vết thương bằng nước sạch không cần băng bó. Với những vết bỏng nhẹ (diện tích nhỏ nông) trước hết bạn cần làm mát vết bỏng bằng cách mở vòi nước cho chảy chầm chậm lên vết bỏng cho đến khi bé đã bớt đau. Nếu ở vết bỏng nổi lên một bọng nước hãy đắp lên đó một miếng vải sạch không bị xổ lông và giữ chắc bằng băng dính nhưng tránh không làm vỡ bọng nước. Không nên thoa bất cứ thứ gì lên vết bỏng.

Khi trẻ bị bỏng nặng điều đầu tiên cần làm là cởi bỏ quần áo của trẻ để lộ vùng bị bỏng. Những chỗ quần áo khô hoặc đã bị dính chặt vào vết bỏng thì tuyệt đối không được lấy ra. Làm mát vết bỏng cho trẻ bằng cách ngâm trẻ vào nước sạch hoặc đắp khăn lạnh lên vết thương tránh làm vỡ những nốt bỏng nước (nếu có). Sau khi đã sơ cứu thì chuyển ngay trẻ đi bệnh viện.

Điện giật

Khi bé bị điện giật người nhà phải nhanh chóng tắt cầu dao diện dùng khăn lông hoặc chăn lót tay kéo trẻ ra khỏi nguồn điện. Nếu trẻ bị ngất phải làm hô hấp nhân tạo và nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện cấp cứu. Để đề phòng những ổ điện vừa tầm với của trẻ trong nhà cần được bịt kín bằng băng keo chuyên dùng.

Co giật

Thông thường một cơn co giật ít khi kéo dài quá 5 phút; nhưng nếu xử trí sai có thể gây tử vong. Vì vậy cần hết sức bình tĩnh và tiến hành các động tác sau: đặt trẻ nằm nghiêng cho đờm nhớt chảy ra vì lúc này bé đã mất phản xạ nuốt dễ bị tắc đường thở.

Đặt một vật mềm như khăn áo vào giữa hai hàm răng để trẻ không cắn vào lưỡi. Lau mát cho trẻ bằng nước ấm hoặc nước nguội tuyệt đối không dùng nước đá (khiến mạch máu ở da bị co không thoát nhiệt). Lau mát chủ yếu ở vùng nách và bẹn - nơi có nhiều mạch máu lớn chạy sát ngoài da. Đặt thuốc hạ nhiệt vào hậu môn cho trẻ.  

Bị ngộ độc: Không gây nôn khi trẻ uống phải axít hoặc xăng dầu

Khi bị ngộ độc trẻ có một số biểu hiện như: đau bụng nôn tiêu chảy khó thở đau đầu chóng mặt hoặc nặng hơn là hôn mê co giật xuất huyết.

Nếu trẻ bị ngộ độc nhẹ gia đình chỉ cần để nạn nhân nôn ra càng nhiều càng tốt và cho trẻ uống nước đường than hoạt tính. Nếu trẻ bị ngộ độc vì uống phải axít kiềm hoặc xăng dầu thì tuyệt đối không được gây nôn.

Trong trường hợp trẻ bị nhiễm độc qua da niêm mạc cha mẹ chỉ cần làm sạch bằng xà phòng hoặc nước sạch. Tuy nhiên nếu trẻ bị ngộ độc với những dấu hiệu như: hôn mê suy thở co giật co cứng toàn thân thì phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt.

Thông thường trẻ chủ yếu bị ngộ độc thuốc sâu thuốc chuột dầu hoả thuốc chữa bệnh thuốc tẩy axít bột giặt... Vì vậy người lớn nên để các loại hóa chất lên cao xa tầm với của trẻ.

Không nên đựng hoá chất trên vào vỏ chai nước ngọt nước khoáng lon bia chai dầu ăn bình cốc  hoặc những đồ dùng dễ gây nhầm lẫn cho trẻ.

Dị vật đường thở: Không dùng tay móc nếu trẻ quá bé

Hóc dị vật đường thở là loại tai nạn rất hay gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi. Khi trẻ bị hóc cha mẹ nên đặt bé nằm sấp dọc theo cánh tay người lớn đầu trẻ thấp hơn ngực   tay kia vỗ nhẹ vào lưng trẻ đến khi nào dị vật bật ra.

Không dùng tay móc dị vật khi trẻ còn quá bé. Với trẻ lớn hơn cha mẹ có thể yêu cầu trẻ cúi người về phía trước đầu thấp hơn ngực. Sau đó một tay đỡ ngực nạn nhân tay kia vỗ mạnh 5 lần vào giữa hai xương bả vai của trẻ theo hướng từ dưới lên trên từ ngoài vào trong.

Cả hai trường hợp trên nếu dị vật vẫn không bật ra hoặc trẻ có dấu hiệu bất tỉnh cần nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất.            

Đuối nước: Nhanh chóng móc hết dị vật trong mũi miệng nạn nhân

Trong trường hợp nạn nhân bị đuối nước vẫn còn tỉnh táo người lớn chỉ cần đặt trẻ nằm ngửa đầu hơi nghiêng một bên sau đó kiểm tra và lấy hết dị vật trong miệng và đường thở của trẻ.

Nếu nạn nhân bất tỉnh cần phải làm sạch đường thở bằng cách móc dị vật trong miệng mũi của nạn nhân để thông đường thở. Sau đó hà hơi thổi ngạt kết hợp ép tim ngoài lồng ngực (nếu nạn nhân có dấu hiệu ngừng tim) đến khi nào nạn nhân tự thở được.

Khi nạn nhân tỉnh lại lưu ý nên để nạn nhân nằm nghiêng đầu thấp và ủ ấm cho nạn nhân để đảm bảo thân nhiệt.

Cha mẹ tuyệt đối không nên để trẻ em một mình ở khu vực gần nước hoặc trong môi trường nước. Ở nông thôn nên che đậy giếng chum vại bể nước thùng nước. Nếu gần nhà có ao hồ nước hố nước (sau tôi vôi)... cần phải được rào chắn kỹ càng đề phòng trẻ sa xuống.

Bị vật sắc nhọn đâm: Không cố lấy khi đã cắm sâu vào thịt

Khi trẻ bị tai nạn do vật sắc nhọn đâm phải cần phải được rửa sạch vết thương bằng ôxy già hoặc nước sạch. Tuyệt đối không được cố gắng lấy những dị vật đã cắm sâu vào vết thương mà nên sát khuẩn và băng cố định dị vật tại chỗ bằng khăn xô đủ chặt để cầm máu.

Nếu vết thương ở ngay mạch máu thì nên ấn vào đường đi của mạch máu ở phía trên vết thương đồng thời băng ép đủ chặt để cầm máu. Sau đó phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế gần nhất.

Các vật gây thương tích như dao kéo đinh... có dính bùn đất phân hoặc gỉ có thể gây uốn ván và các nhiễm trùng nặng khác nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để tiêm phòng. Nhưng cách phòng tốt nhất là các bậc cha mẹ nên cất riêng đồ sắc nhọn tránh lối ra vào và để xa tầm với của trẻ.

Động vật cắn: Rửa ngay vết thương bằng xà phòng

Bị động vật cắn việc cần làm ngay là phải rửa sạch vết thương bằng nước sạch và xà phòng sau đó phủ lên vết thương miếng vải sạch hoặc băng gạc.

Nếu trẻ bị chó mèo cắn cần phải theo dõi con vật tối thiểu trong 10 ngày để phát hiện những biểu hiện bất thường như: sùi bọt mép bị ốm sau khi cắn.  Khi bị động vật nghi dại cắn phải đưa ngay nạn nhân đến cơ sở y tế để tiêm phòng.                                                                                                                                                          Bác sĩ Lê Trung Ngân

More...

Vết thương ngoài da

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh

Một buổi tối bận rộn nấu ăn bạn hăng say cắt thịt cá rau cải... lòng nghĩ đến món ăn nóng hổi và đẹp mắt sắp được dọn trên bàn. Ái! Trong lúc bận suy nghĩ bạn đã lỡ gọt vào ngón tay của mình.
  Một ngày đẹp trời đi leo núi hoặc picnic ngoài trời bạn cảm thấy trên triền núi có đóa hoa đẹp; thấy sườn không dốc lắm bạn trèo lên hái nó và khi trở xuống bị bước hụt. Dĩ nhiên là không có gì nghiêm trọng nhưng bạn vẫn bị vài chỗ sây sát trên cánh tay trên chân...     Sây sát trầy trụa đứt tay... là những chuyện hầu như không thể tránh được trong những sinh hoạt hằng ngày. Dù không nguy hiểm nhưng khi máu đã chảy ra bạn cũng cảm thấy đau đớn muốn vết thương chóng lành thậm chí còn lo nó bị nhiễm trùng sưng mủ và gây khó chịu nhiều ngày sau.

Dễ dàng thôi với một chút kiến thức phổ thông về y tế bạn có thể giải quyết vấn đề này không chút khó khăn. Và chỉ thêm một chút kiến thức nữa bạn có thể làm vết thương lành nhanh hơn!

"Chảy máu thì cầm máu; chảy máu thì sát trùng; chảy máu thì dán băng keo bôi thuốc... Chuyện đơn giản mà." Nhiều người đã nói như vậy. Nhưng bạn có giật mình không khi biết được rằng trong những loại thuốc trị vết thương bán tại tiệm thuốc tây có loại làm vết thương lành sớm hơn 5 ngày có loại làm vết thương lâu lành hơn?

Thật vậy trong một nghiên cứu về hiệu quả của những loại thuốc trị vết thương được bày bán tự do trong các tiệm thuốc tây bác sĩ Jemes L. đã đưa ra kết quả sau: Một vết thương nếu chỉ được sát trùng mà không dùng thuốc gì khác sẽ tự lành trong khoảng 13 ngày. Cũng vết thương này khi dùng kem hiệu Polysporin sẽ lành trong khoảng 8 ngày; còn nếu dùng các loại thuốc có iốt như thuốc đỏ chẳng hạn vết thương sẽ lành trong... gần 16 ngày.

Kết quả này có lẽ sẽ làm một số độc giả cảm thấy rụng rời vì chính mình đã dùng thuốc đỏ rất nhiều lần. Dù sao đi nữa đây là chuyện có thật sự thật này đã được chứng minh rõ ràng qua những tài liệu được công bố rộng rãi từ Đại học Y khoa Pennsylvania (Mỹ). Những tài liệu này còn cho biết thêm về hiệu quả của một số thuốc khác: như Neosporin làm lành vết thương trong khoảng 9 ngày thuốc bôi của hãng Johnson khoảng gần 10 ngày thuốc xịt Bactine hoặc Methiolate khoảng 14 ngày thuốc sát trùng Hydrogen Peroxide 3% khoảng hơn 14 ngày Campho-Phenique khoảng hơn 15 ngày.

Qua những kiến thức nhỏ nói trên có lẽ bạn đã một phần nào thấy được tầm quan trọng của loại thuốc cần dùng trong việc chữa trị vết trầy vết cắt. Dưới đây là những chuyện tối thiểu cần làm khi bị các vết thương này.
 

Cầm máu
Phương pháp nhanh chóng nhất để cầm máu là đè chặt vết thương đừng cho chảy máu ra. Hãy dùng một miếng băng vải hay bông gòn đặt lên vết thương đang chảy máu rồi đè mạnh xuống không cho máu chảy. Nếu không sẵn thứ này bạn dùng ngón tay đè lên vết thương cũng được. Việc này sẽ làm máu ngưng chảy trong vòng 1-2 phút. Nếu máu vẫn chưa ngưng chảy nên tìm cách đưa vết thương lên cao hơn độ cao của trái tim. Nếu máu vẫn không cầm thì vết thương của bạn khá nghiêm trọng đấy. Hãy tìm động mạch dẫn máu từ tim đến vết thương ấn mạnh vào động mạch này để chặn máu từ tim chảy đến (mạch này nằm ở phần trong của hai tay chân phần da trắng có nổi gân xanh). Bạn sẽ thấy máu bớt chảy ra. Giữ tư thế này chừng 1-2 phút nếu máu vẫn còn chảy thì tiếp tục ấn cho đến khi cầm mới thôi.  

Thông thường phương pháp trên rất có hiệu quả. Nhưng nếu gặp một vết cắt ngay trên động mạch chính có thể bạn sẽ phải dùng đến dụng cụ (tourniquet). Đó là một sợi dây hay một băng vải cột vòng tròn quanh vết thương sau đó xỏ một que nhỏ như chiếc đũa qua và vặn nhiều vòng để vòng dây xiết lại ép động mạch nhỏ và làm máu ngưng chảy. Lưu ý: Không bao giờ giữ tourniquet siết quá 1-2 phút; phải mở ra ngay sau khi vết thương thôi chảy máu... Nhiều người đã bị tàn phế một tay hay chân vì dụng cụ này không cho máu nuôi cơ thể quá lâu.
 

Rửa sạch vết thương
Đây là một trong những bước rất quan trọng để bảo vệ vết thương chống lại sự xâm nhập của vi trùng vi khuẩn. Nên rửa vết tương bằng xà phòng và nước cố gắng lấy hết những bụi cát trong vết thương ra. Những bụi cát này nếu không được lấy hết sẽ có thể gây sẹo hay tì vết trên da sau khi vết thương được chữa lành.
 

Bôi thuốc và băng bó
Nên dùng loại thuốc bôi có kháng sinh. Polysporin là thuốc có công hiệu làm vết thương mau lành nhất. Sau khi bôi thuốc bạn cần băng bó để vết thương không bị nhiễm trùng không bị khô và sẽ mau lành hơn. Một số loại băng keo có sẵn thuốc kháng sinh rất tiện dụng; chỉ cần băng lên là đủ.
 

Tiêm phòng uốn ván
Khi đạp phải một cây đinh sét bị một lưỡi dao bằng thép cắt phải hay bị ngã va đầu gối vào thềm xi măng... bạn phải tiêm phòng uốn ván.
Chẳng lẽ mỗi lần chảy máu lại phải đi tiêm vacxin này sao? Không đến nỗi vậy. Mỗi lần tiêm có thể mang lại cho bạn sự miễn dịch với uốn ván trong vòng 5 năm.
 

Mẹo vặt:
Muốn vết thương không để lại sẹo hãy uống mỗi ngày 2 lần mỗi lần một viên sinh tố E loại 400 IU. Khi vết thương bắt đầu liền da dùng kim chích một viên sinh tố E ra lấy dầu bôi lên vết thương mỗi ngày 2 lần. Tiếp tục cho đến khi lành hẳn.

More...