CÔNG TÁC HỘI CHỮ THẬP ĐỎ Ở MỘT HUYỆN BIÊN GIỚI

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh

CÔNG TÁC HỘI CHỮ THẬP ĐỎ Ở MỘT HUYỆN BIÊN GIỚI

     Bến Cầu là huyện nông thôn biên giới  thuộc tỉnh Tây Ninh có 9 xã thị trấn 40 khu dân cư dân số 62.900 ; người dân ở đây đa số sống bằng nghề nông nghiệp trình độ dân trí còn nhiều hạn chế. Cán bộ công tác Chữ thập đỏ ở một số cơ sở gặp nhiều bất cập tuy nhiên năm 2010 vừa qua được sự quan tâm hỗ trợ của Huyện ủy- UBND huyện Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh tạo điều kiện thuận lợi cho Hội Chữ thập đỏ huyện tổ chức các hoạt động phục vụ đời sống nhân dân mang lại hiệu quả thiết thực được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ tham gia nhiều đóng góp về vật chất tinh thần vì mục đích nhân đạo phù hợp với truyền thống đạo lý dân tộc Việt Nam làm cho đời sống nhân dân địa phương khá lên một bước đáng kể giảm hộ nghèo còn 2 14% trong toàn huyện còn lại là hộ khá trở lên.

     Trong năm qua Ban Chấp hành Hội Chữ thập đỏ không ngừng nâng cao vai trò trách nhiệm. Về công tác tổ chức thường xuyên củng cố chi tổ hội; hiện BCH Huyện hội có 23 thành viên ( 8 thành viên nữ) các thành viên BCH là cán bộ lãnh đạo các ban ngành đoàn thể huyện các xã và Tôn giáo; có 1 đội TNCTĐXK gồm 20 người; 1 đội Hiến máu dự bị 18 người; có 31 Hội Chữ thập đỏ trường học; 9 Hội cơ sở xã thị trấn; 40 Chi Hội ấp khu phố; 1 Hội Chữ thập đỏ Tôn giáo và 1Trung tân Y tế với tổng số là 3.111 hội viên.

     Từ đầu năm 2010 đến nay BCH Hội không ngại khó khăn trong việc tuyên truyền cho cán bộ hội viên học tập các nghị quyết của Đảng pháp luật của Nhà nước Luật hoạt động CTĐ Việt Nam Điều lệ Hội; tuyên truyền lời khuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác Hội Chữ thập đỏ tuyên truyền học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; phổ biến kiến thức kỹ năng về phòng ngừa ứng phó thảm họa phòng chống dịch bệnh... được 136 cuộc có 4.802 lượt người dự. Tập huấn sơ cấp cứu ban đầu kỹ năng hoạt động Chữ thập đỏ cho 106 cán bộ Hội và hội viên.

     Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có nhiều chuyển biến đáng kể trong năm qua Hội đã chủ động phối hợp các đoàn Y Bác sĩ TP. HCM (Bệnh viện Nguyễn Trãi Hùng Vương TT Y tế Q10); đoàn Thầy thuốc tình nguyện và các mạnh thường quân các nhà hảo tâm...đã đến khám bệnh cấp thuốc tặng quà cho các gia đình chính sách neo đơn bà con nghèo... được 2.196 lượt người với tổng số tiền trị giá thuốc và quà là 332 triệu đồng. Nhân dịp Tết Tân Mão Hội  chủ động cùng Hội CTĐ tỉnh Bình Dương cùng các mạnh thường quân trong và ngoài Tỉnh đến thăm tặng quà cho hội viên và bà con nghèo trong huyện để có điều kiện vui tết. Tổng số quà Tết là 7.517 phần quà bằng số tiền là 842 triệu đồng. Riêng các tổ Đông y khám bệnh cấp thuốc miễn phí cho 2.089 lượt người với 14.625 thang thuốc và 877 gói thuốc thành phẩm trị giá 103 triệu đồng. Tổ chức thăm hỏi tặng quà cho 252 hội viên nghèo với số tiền quà là 16.700.000 đồng.

     Ngoài ra Hội Chữ thập đỏ huyện còn tổ chức thực hiện các phong trào khác: Đội TNCTĐXK tổ chức đắp 4.540 mét đường ở khu dân cư không có điều kiện đi lại cho bà con đi lại dể dàng thường xuyên khai thông các tuyến kênh nội đồng tạo thuận lợi cho bà con thuận lợi sản xuất được 365 ngày công trị giá 41 triệu đồng. Vận động ủng hộ đồng bào Miền Trung lũ lụt 12 triệu đồng vận động xây dựng 6 căn nhà tình thương cho hộ nghèo cấp 30 xe lăn cho người tàn tật tổng trị giá công tác xã hội trong năm là 1.694.315 đồng.

     Về công tác Hiến máu nhân đạo Hội Chữ thập đỏ huyện kết hợp Bệnh viện huyện và Trung Tâm truyền máu Bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM qua 4 đợt thực hiện thu được 597/517 đơn vị máu đạt 115% chỉ tiêu trên giao; riêng đầu năm 2011 Hội chữ thập đỏ huyện Bến Cầu tổ chức "Lễ hội Xuân hồng" năm 2011 thu được 204/597 đv máu (đạt 35 23% chỉ tiêu trên giao năm 2011).

     Tại Hội nghị tổng kết hoạt động CTĐ huyện Bến Cầu vừa qua Hội đã được TW Hội CTĐ Việt Nam Hội CTĐ tỉnh UBND huyện khen thưởng cho nhiều tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào CTĐ và phong trào HMTN.

                                                                                   Công Danh

                                          (Chủ tịch Hội CTĐ huyện Bến Cầu)

 

More...

Hội CTĐ huyện Tân Châu qua 5 năm thực hiện phong trào (2005 - 2009)

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh

 


Hội CTĐ huyện Tân Châu
qua 5 năm thực hiện phong trào (2005 - 2009)


 

Ban chấp hành Hội Chữ Thập Đỏ huyện 5 năm qua đã và đang thực hiện nghị quyết của Đại hội đại biểu Hội chữ thập đỏ huyện Tân Châu  lần thứ IV cho đến nay Huyện hội đã thành lập được 35 hội cơ sở trong đó 12 cơ sở hội xã - thị trấn 02 cơ sở hội cơ quan 01 cơ sở hội từ thiện 01 Hội Chữ thập đỏ khối doanh nghiệp và 19 cơ sở hội Trường học. Tổng số chi hội trực thuộc là 299 chi hội với số hội viên hiện nay là 5.937 hội viên. Hội chữ thập đỏ huyện đã bắt những nhịp cầu nhân ái mang tinh thần và vật chất đến để chia sẻ với những gia đình trong những lúc gặp khó khăn như thiên tai hoả hoạn lốc xoáy tang tế... Hội đã xây dựng Mỗi tổ chức mỗi cá nhân gắn với địa chỉ nhân đạo phong trào Hũ gạo tình thương để giúp những người già không nơi lương tựa những bữa cơm cháo tình thương cho bệnh nhân nghèo nằm điều trị tại bệnh viện xây nhà tình thương chữ thập đỏ cho những gia đình không có khả năng về nhà ở chăm lo cho các em học sinh nghèo với mục tiêu "học sinh hôm nay thế giới ngày mai" Hội đã cấp cho các em học sinh nghèo những xuất học bổng những chiếc xe đạp tập sách vở để các em đến trường Hội đã đến với những nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam do quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam những mảnh đời trước đây mà tưởng chừng như họ đã bị lãng quên trong xã hội từ những tinh thần và vật chất ấy đã giúp họ vươn lên và hoà nhập cùng cộng đồng. Trong 5 năm qua Hội chữ thập đỏ huyện đã tặng quà chăm sóc sức khoẻ cho 603.000 lượt dân nghèo tặng học bổng và hàng chục chiếc xe đạp cùng các vật chất khác cho các em học sinh nghèo tặng hàng trăm chiếc xe lăn xe lắc và phục hồi chức năng chỉnh hình cho hàng chục người tàn tật khuyết tật trên địa bàn huyện. Tổng trị giá : 12.062.000.000đ không ngừng tại đó Hội còn kêu gọi tất cả mọi người tình nguyện hãy đem những giọt máu hồng từ trái tim nhỏ bé nhưng đầy lòng nhân ái của mình cứu sống người đang nằm quằng quoại chờ tiếp máu. Tổng số trong 5 năm qua hội đã vận động được 2.065 đơn vị máu. Hội chữ thập đỏ huyện Tân Châu 5 năm liền đạt thành tích xuất sắc cấp tỉnh.

                   (Hội CTĐ huyện Tân Châu)
TK 5 nam TC_640x480.JPG  100 KB

Các tập thể cá nhân được tôn vinh tại Hội nghị điển hình tiên tiến 2005-2009


More...

Sự ra đời và phát triển của Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh



Sự ra đời và phát triển của Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh


Cùng với sự lớn mạnh của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ngày 25/06/1976 do sự cần thiết thành lập Hội Hồng Thập tự của tỉnh Chủ tịch Đặng Văn Lý đã thay mặt Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Tây Ninh ký quyết định số 39/ QĐ thành lập Hội Hồng Thập tự tỉnh Tây Ninh gồm 08 thành viên do ông 7 Dũng ủy viên Ủy Ban tỉnh làm Hội trưởng. Từ đó ngày 25/06/1976 được coi như ngày thành lập Hội Hồng Thập tự Tây Ninh và cũng là Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh ngày nay. Ông 7 Dũng tên thật là Võ Trí Dũng là Hội trưởng đầu tiên giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1980 hiện nay ông đã nghĩ hưu tại phường III thị xã Tây Ninh.
 

              

                                 Bác sĩ  Lê Trung Ngân (bìa trái) chủ tịch Hội CTĐ thăm chúc tết gia đình

                                 ông Võ Trí Dũng (chính giữa) nguyên là chủ tịch Hội CTĐ Tây Ninh

Năm 1980 ông Nguyễn Màng lúc đó là phó Hội trưởng được phân công điều hành hoạt động Hội. Đến tháng 1 năm 1988 Đại hội đại biểu Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh lần thứ I được tổ chức và bầu ra ban chấp hành tỉnh Hội đầu tiên gồm có 21 vị Đại hội đã bầu ông Nguyễn Màng làm Chủ tịch Hội cũng từ đây Hội Hồng Thập tự Tây Ninh chính thức mang tên Hội Chữ thập đỏ tỉnh tây Ninh.  

                                                   

                                       Bs Nguyễn Màng nguyên chủ tịch Hội

                                                              CTĐ tỉnh Tây Ninh giai đoạn 1988 - 1995

Tháng 4 năm 1994 Đại hội đại biểu Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh lần thứ II nhiệm kỳ 1994 - 1998 được tổ chức Đại hội đã bầu ra ban chấp hành mới gồm 18 vị ông Nguyễn Màng tiếp tục được bầu lại làm Chủ tịch Hội ông Trần Công Tâm và ông Huỳnh Công Phúc được bầu làm phó chủ tịch Hội đến năm 1995 ông Nguyễn Màng nghỉ hưu bà Võ Mai Hồng được Hội Nghị BCH bầu bổ xung làm chủ tịch Hội đến năm 2000. Hiện ông Nguyễn Màng đã nghỉ hưu tại phường II thị Xã Tây Ninh Bà Võ Mai Hồng cũng đã nghĩ hưu tại phường IV thị xã Tây Ninh.

                            

                             Bà Võ Mai Hồng nguyên Chủ tịch Hội CTĐ tỉnh Tây Ninh giai đoạn

                                                                                    1995 - 2000

Ngày 1 tháng 3 năm 2000 Đại hội Đại biểu Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh lần thứ III được tổ chức Đại hội đã bầu ban chấp hành mới gồm có 31 vị ông Lê Trung Ngân được Bầu làm Chủ tịch Hội ông Nguyễn Văn Nguyên được bầu làm phó chủ tịch Hội đến năm 2002 Hội nghị BTV bầu bổ sung ông Lê Quang Trung làm phó chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh.

                         

                         Bác sĩ Lê Trung Ngân Chủ tịch hội từ năm 2000 đến nay

Trong 2 ngày 30 và 31 tháng 10 năm 2006 Đại hội đại biểu Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh lần thứ IV nhiệm kỳ 2006 - 2010 đã được tổ chức tại Hội trường tỉnh ủy Tây Ninh có 219/220 đại biểu chính thức tham dự Đại hội. Đại hội đã bầu Ban chấp hành Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ IV 2006 - 2010 gồm 39 vị Bầu ban Thường vụ Hội Chữ thập đỏ tỉnh gồm 9 vị bầu Ban Kiểm tra gồm 05 vị. Bác sĩ Lê Trung Ngân được bầu lại làm Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh các ông: Nguyễn Văn Nguyên và ông: Lê Quang Trung cũng đã được bầu lại làm phó chủ tịch Hội.

Những thành tựu nổi bậc từ Đại hội Chữ thập đỏ

Tỉnh Tây Ninh lần thứ IV đến nay

Tiếp tục phát huy thành quả to lớn của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cùng với sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh Ủy Ủy Ban Nhân Dân tỉnh sự hỗ trợ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các sở ban ngành đoàn thể các tổ chức xã hội và cá nhân trong và ngoài tỉnh trong 32 năm qua các cấp Hội đã kiên trì hoạt động và không ngừng lớn mạnh về tổ chức cũng như hoạt động. Tính từ ngày Đại hội Đại biểu Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh lần thứ IV đến nay (tháng 10/2006) Các cấp Hội trong tỉnh đã không ngừng thi đua hoạt động và đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận:

Hiện nay trong tỉnh có 100% Hội cơ sở xã phường thị trấn trường THPT bổ túc THPT trường chuyên nghiệp THCS; 90% trường tiểu học trong tỉnh có tổ chức Hội. Nhiều cấp Hội đã chú trọng xây dựng chi hội từ thiện chi hội táng trợ chi hội trường mẫu giáo cơ quan Hội cơ sở các doanh nghiệp; xây dựng ban mai táng đội chống dột đội lân đội sơ cấp cứu đội bốc hài cốt câu lạc bộ hội viên tán trợ câu lạc bộ người tình nguyện. . . thường xuyên hoạt động. Số lượng tổ chức Hội và chất lượng hội viên đã được nâng lên đội ngũ cán bộ đã được tập huấn và trang bị tài liệu tương đối đầy đủ. Năm 2000 có 49.753 hội viên đến nay có 95.274 hội viên tăng gần 100% chiếm sắp sĩ 10 % dân số của tỉnh.

Qua hơn 2 năm từ Đại hội đến nay Hội đã huy động cho công tác xã hội nhân đạo trị giá 40 tỷ 403 triệu 839 ngàn 900 đồng riêng trong năm 2008 đạt 14 tỉ 198 triệu 914 ngàn 500 đồng tính bình quân đạt hơn 14.000 đồng/dân so với chỉ tiêu Đại hội đề ra vượt 4.000 đồng/dân.

Công tác chăm sóc sức khỏe đạt 9 tỉ 007 triệu 716 ngàn đồng qua đó khám chữa bệnh miễn phí cho 883.913 người nghèo riêng trong năm 2008 đạt 2 tỉ 671 triệu 675 ngàn đồng giúp được 187.206 người tính bình quân đạt hơn 2.500 đồng/dân so với chỉ tiêu Đại hội đề ra vượt 500 đồng/dân.

Công tác xây dựng quỹ nhân đạo toàn tỉnh đã thu được 906 triệu 254 ngàn 800 đồng đây được xem là quỹ cứu trợ đột xuất khi có thiên tai thảm hoạ xảy ra hoặc cứu trợ những gia đình không mai gặp phải khó khăn đột xuất.

Công tác tuyên truyền vận động hiến máu nhân đạo đã có sự tập trung cao độ chỉ tính từ năm 2006 đến nay tỉnh đã tiếp nhận được 11 ngàn 115 đơn vị máu tương đương 2 ngàn 841 45 lít máu đáp ứng được nhu cầu máu của bệnh viện đa khoa trong tỉnh dùng trong việc cấp cứu người bệnh và góp phần chia sẽ nguồn máu cho bệnh viện Chợ Rẩy.

Phong trào xây cất nhà tình thương cũng được đông đảo cán bộ hội viên thanh thiếu niên hưỡng ứng mạnh mẽ trong 3 năm qua đã có 171 căn nhà tình thương được trao tặng cho người nghèo và các đối tượng diện chính sách với tổng trị giá 1 tỉ 950 triệu 490 ngàn đồng riêng trong năm 2008 cất được 46 căn nhà tổng trị giá 782 triệu 790 ngàn đồng.

Các hoạt động của Hội như: Tuyên truyền huấn luyện sơ cấp cứu phòng chống HIV/AIDS chăm sóc sức khỏe người nghèo chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ những người bất hạnh người tàn tật người già neo đơn trẻ em mồ côi không nơi nương tựa chăm sóc nạn nhân chất độc da cam ... đã được đông đảo cán bộ hội viên thanh thiếu niên và quần chúng nhân dân tham gia tích cực qua đó đã góp phần thực hiện tốt chính sách xã hội của Đảng và nhà nước ở địa phương tạo an sinh xã hội phát triển bền vững.

Nhìn lại chặn đường 62 năm từ ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và 32 năm ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của Hội. Toàn thể cán bộ hội viên thanh thiếu niên Chữ thập đỏ Tây Ninh luôn khắc ghi lời dạy quý báu của Bác Hồ Kính yêu "Phải xuất phát từ lòng yêu thương nhân dân tha thiết mà góp phần bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và làm mọi việc có thể làm để giảm bớt đau thương cho họ" tình yêu thương ấy là lòng nhân ái "thương người như thể thương thân" "lá lành đùm lá rách" đó cũng là lẽ sống là đạo lý của con người Việt Nam.

More...

BIỂU TƯỢNG CỦA PHONG TRÀO CTĐ - TLLĐ QUỐC TẾ:

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh


   

Biểu tượng của Phong trào CTĐ-TLLĐ Quốc tế

Biểu tượng của 

Ủy ban Quốc tế CTĐ

Biểu tượng của Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế

Biểu tượng của 

Hội Chữ thập đỏ quốc gia

Biểu tượng của Hội Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia

Tất cả Biểu tượng đều phải là màu đỏ trên nền trắng

- Biểu tượng có 2 tác dụng: Bảo vệ và Nhận diện:

  • Bảo vệ: Đây là mục đích cơ bản của Biểu tượng khi có xung đột các bên tham chiến không được tấn công xâm phạm những nơi có Biểu tượng (Biểu tượng phải có kích thước lớn)

Biểu tượng dùng để bảo vệ cho các đơn vị quân y; các đơn vị y tế của Hội CTĐ quốc gia (bệnh viện trạm cấp cứu...) và phương tiện giao thông vận tải (đường bộ đường thủy đường không) được giao nhiệm vụ cứu thương; các cơ sở y tế dân sự (bệnh viện trạm cấp cứu được Chính phủ và các cấp chính quyền giao nhiệm vụ cứu chữa thương binh trong chiến tranh và hoạt động nhân đạo (không thu tiền); các tổ chức cứu trợ tình nguyện khác được Chính phủ cho phép hoạt động phục vụ cứu thương họ được dùng Biểu tượng cho nhân viên hoặc thiế bị khi phục vụ trong các đơn vị y tế của lực lượng vũ trang; Họ phải tuân theo các quy định và luật quân sự.

  • Nhận diện: Với mục đích nhận diện Biểu tượng được sử dụng chủ yếu trong thời bình để biết đó là một cá nhân hoặc tài sản có liên quan đến Phong trào CTĐ-TLLĐ (Biểu tượng phải có kích thước nhỏ).

Với mục đích này Biểu tượng dùng cho hội viên nhân viên của Hội CTĐ/TLLĐ khi làm nhiệm vụ và được đeo cùng với tên đầy đủ hoặc chữ viết tắt tên Hội quốc gia; Đội viên thanh thiếu niên CTĐ-TLLĐ được sử dụng Biểu tượng nhưng phải kèm theo các chữ "Thanh thiếu niên CTĐ/TLLĐ"; những người đã tham gia các khóa học hoặc các kỳ thi của Hội quốc gia có thể đeo Biểu tượng với kích thước nhỏ kèm theo tên hoặc chữ viết tắt Hội quốc gia; những nhà cửa trụ sở tài sản được Hội quốc gia sử dụng được đánh dấu bằng Biểu tượng và kèm theo tên Hội quốc gia; các bệnh viện trạm cấp cứu xe cứu thương và các phương tiện vận chuyển khác do Hội quốc gia sử dụng được treo Biểu tượng cùng với tên của Hội.

Ủy ban Quốc tế CTĐ và Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế có thể sử dụng Biểu tượng trong mọi trường hợp và không có hạn chế nào. Luật Nhân đạo quy định về hình thức phạm vi sử dụng Biểu tượng. Các Chính phủ tham gia Luật Nhân đạo đều phải thực hiện theo quy định này.

Vận dụng quy định về sử dụng biểu tượng trong ngành y tế của Việt Nam 

(công vãn số 924 VP1 ngày 18/2/1998 của Bộ Y tế)

Chỉ được dùng Biểu tượng Chữ thập đỏ trong 4 tình huống:

  • Tại bệnh viện làm nhiệm vụ cấp cứu không lấy tiền

  • Tại phòng khám bệnh cấp cứu không lấy tiền

  • Các xe cấp cứu xe chống dịch

  • Các cán bộ làm công tác phòng dịch kiểm dịch biên giới

Không dùng Biểu tượng tại nơi có các hoạt động dịch vụ

Sử dụng phải có sự thỏa thuận với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

More...

LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ

By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh


   

 

Thế nào là Luật Nhân đạo Quốc tế?

Luật Nhân đạo Quốc tế là một phần chủ yếu của Công pháp quốc tế và bao gồm những quy tắc mà trong thời chiến đều nhằm bảo vệ những người ngoài vòng chiến đấu hoặc đã bị loại khỏi cuộc xung đột đồng thời nhằm hạn chế những phương pháp và phương tiện sử dụng trong chiến tranh.

Nói một cách chính xác hơn đối với Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (UBCTĐQT) Luật Nhân đạo Quốc tế áp dụng đối với các cuộc xung độ vũ trang có ý nghĩa như một Hiệp ước quốc tế hoặc những điều luật tập quán nhằm giải quyết các vấn đề nhân đạo trực tiếp nảy sinh từ các cuộc xung đột vũ trang dù có mang tính chất quốc tế hay không. Ví những lý do nhân đạo các quy tắc của Luật Nhân đạo sẽ hạn chế quyền tự do sử dụng các phương pháp và phương tiện chiến tranh của các bên tham chiến đồng thời bảo vệ người và tài sản bị ảnh hưởng hoặc có thể bị ảnh hưởng do cuộc xung đột.

Cụm từ "Luật Nhân đạo Quốc tế" "Luật Xung đột vũ trang" "Luật Chiến tranh" có thể được coi là có ý nghĩa tương đương. Các tổ chức quốc tế các trường đại học thậm chí các quốc gia thường chuộng dùng cụm từ Luật Nhân đạo Quốc tế (hoặc Luật Nhân đạo) trong khi các lực lượng vũ trang thích dùng hai cụm từ sau.

Xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế: là xung đột giữa lực lượng quân đội của ít nhất là hai quốc gia (Chiến tranh giải phóng dân tộc được xếp vào dạng xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế).

Xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế: là xung đột xảy ra trong phạm vi một quốc gia giữa một bên là quân đội chính quy với bên kia là những phe nhóm xác định và có trang bị vũ trang hoặc xung đột giữa các phe nhóm có trang bị vũ trang với nhau.

Xáo trộn nội bộ: là trong một nước xảy ra những rối loạn nghiêm trọng về trật tự xã hội gây nên bởi các hành vi bạo lực không mang tính chất của xung đột vũ trang (ví dụ: bạo loạn xung đột giữa các phe phái hoặc hành vi bạo lực chống đối chính quyền...)

Những quy tắc chủ yếu của Luật Nhân đạo Quốc tế là gì?

Là những quy phạm luật chủ yếu mà UBCTĐQT đã tóm tắt từ những nét chính của Luật Nhân đạo Quốc tế. Do vậy không có hiệu lực của một văn bản pháp lý và cũng không được đem thay thế các văn bản pháp lý khác đang có hiệu lực chỉ nhằm tạo điều kiện cho việc phổ biến Luật Nhân đạo quốc tế mà thôi.

Nội dung của các quy tắc:

  • Những người nằm ngoài và những người bị loại khỏi vòng chiến phải được tôn trọng về sinh mạng được đảm bảo toàn vẹn về thân thể và tinh thần. Trong mọi trường hợp các đối tượng trên phải được bảo hộ và đối xử nhân đạo không có bất kỳ sự phân biệt nào.

  • Nghiêm cấm việc giết hoặc làm bị thương đối phương khi họ đã quy hàng hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.

  • Người bị thương hoặc bị ốm phải được thu gom lại và chăm sóc bởi bên đối phương đang cầm giữ họ. Các nhân viên y tế các trạm và phương tiện vận chuyển và trang thiết bị y tế phải được tôn trọng và bảo vệ. Biểu tượng CTĐ và TLLĐ trên nền trắng là dấu hiệu bảo hộ những người và vật dụng nói trên nên phải được tôn trọng.

  • Tù binh và dân thường bị phía đối phương bắt giữ phải được tôn trọng về sinh mạng phẩm giá các quyền tự do và tư tưởng cá nhân chính trị tín ngưỡng và tập tục tôn giáo. Cấm sử dụng các hành động bạo lực hoặc trả đũa đối với họ. Họ được bảo đảm quyền liên lạc với gia đình và tiếp nhận sự cứu trợ.

  • Mỗi người đều có quyền hưởng các bảo đảm luật pháp chủ yếu. Không ai phải chịu trách nhiệm về những việc mà họ không vi phạm. Không được tra tấn về thể chất và tinh thần dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo hoặc làm mất nhân phẩm đối với họ.

  • Các bên tham chiến và thành viên các lực lượng vũ trang phải tuân thủ việc hạn chế sử dụng các biện pháp và phương tiện chiến tranh gây ra những tác hại không cần thiết hoặc quá đau đớn.

  • Các bên tham chiến phải luôn luôn phân biệt rõ dân thường và tài sản của họ. Đại bộ phận nhân dân cũng như mỗi con người đều không thể bị coi là mục tiêu để tấn công. Chỉ được tấn công vào các mục tiêu quân sự.

Nguồn gốc của Luật Nhân đạo Quốc tế là gì?

Để giải đáp được câu hỏi này chúng ta phải đặt ra một số câu hỏi khác!

Trước khi có Luật Nhân đạo ngày nay có luật nào chi phối xung đột vũ trang hay không?

Thứ nhất có các quy tắc bất thành văn hình thành trên cơ sở những tập quán chi phối các cuộc xung đột vũ trang. Sau đó có nhiều hiệp ước song phương (trao trả tù binh) tuy được soạn thảo ở những mức độ chi tiết khác nhau nhưng có hiệu lực. Đôi khi các ban tham chiến lại phê chuẩn các hiệp ước khi chiến tranh đã kết thúc. Ngoài ra còn có các điều lệnh mà các nước đã ban hành cho binh lính của mình. Như vậy luật áp dụng cho xung đột vũ trang được giới hạn cả về thời gian và không gian trong đó luật nói trên chỉ có giá trị đối với một trận chiến hoặc một trận xung đột. Các quy tắc cũng thay đổi tùy theo thời gian địa điểm đạo lý và nền văn minh.

Ai là những người khởi xướng Luật Nhân đạo ngày nay?

Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành Luật Nhân đạo là hai ông Hăng-ri Đuy-năng (Henry Dunant) và tướng Guy-lôm Hăng-ri Đuy-phua (Guillaume-Henri Dufour). Hăng-ri Đuy-năng đã khởi xướng ý tưởng đó trong cuốn sách "Kỷ niệm Son-phe-ri-nô" (Solferino) xuất bản năm 1862. Còn tướng Hăng-ri Đuy-phua dựa trên kinh nghiệm chiến tranh dày dạn của mình đã nhiệt tình ủng hộ bằng việc ông đồng chủ tọa Hội nghị ngoại giao năm 1864.

Đuy-năng viết: "Trong một số trường hợp đặc biệt ví dụ như khi thủ lĩnh quân sự thuộc các quốc gia tụ họp (...) đây là dịp họ có thể lợi dụng hình thức hội nghị để xây dựng một số nguyên tắc quốc tế chuẩn y trong khuôn khổ một Công ước và không được phép vi phạm) những nguyên tắc này một khi đã được các bên phê chuẩn có thể sẽ hình thành cơ sở để các bên cứu trợ những người bị thương ở các quốc gia châu Âu".

Tướng Hăng-ri Đuy-phua viết (cho Hăng-ri Đuy-năng): "Qua những ví dụ sinh động như những ví dụ được minh họa trong bản báo cáo của ngài chúng ta cần nhìn nhận vấn đề: Có vinh quang nào trên chiến trường sinh ra do tra tấn và nước mắt".

Ý tưởng đã trở thành hiện thực như thế nào?

Chính phủ Thụy Sĩ với sự thuyết phục của 5 thành viên sáng lập UBCTĐQT đã triệu tập Hội nghị Ngoại giao năm 1864 với sự tham dự của 16 nước; Hội nghị đã thông qua Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện tình trạng thương binh trên chiến trường.

Công ước có những điểm nào mới?

Công ước Giơ-ne-vơ năm 1864 đã đặt nền móng cho Luật Nhân đạo ngày nay và có những đặc trưng chủ yếu sau:

  • Là những quy tắc thành văn và hiện hành có tầm chi phối toàn cầu nhằm bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột.

  • Mang tính chất đa phương để ngỏ cho mọi quốc gia tham gia.

  • Quy định nghĩa vụ chăm sóc thương bệnh binh mà không phân biệt đối xử.

  • Tôn trọng các nhân viên các phương tiện vận chuyển và thiết bị y tế có mang biểu tượng (Chữ thập đỏ trên nền trắng)

Luật Nhân đạo Quốc tế được hình thành trên cơ sở những hiệp định nào?

Khởi đầu từ Công ước Giơ-ne-vơ lần thứ nhất năm 1864 Luật Nhân đạo ngày nay đã phát triển qua nhiều thời kỳ mà tất cả thường là sau những biến cố mà hết sức cần thiết phải có luật để đáp ứng các nhu cầu cao chưa từng có về cứu trợ nhân đạo cho nạn nhân của sự phát triển các loại vũ khí và các kiểu xung đột mới. Dưới đây là những Hiệp định cơ bản được liệt kê theo trình tự thời gian thông qua:

  • 1864 Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện điều kiện các thương binh trên chiến trường

  • 1868 Tuyên bố Xanh Pê-téc-bua (cấm sử dụng một số loại vũ khí tên lửa trong chiến tranh).

  • 1899 Công ước La-hay tôn trọng các đạo luật và những tập quán liên quan đến chiến tranh và vận dụng những nguyên tắc của Công ước Giơ-ne-vơ năm 1864 cho chiến tranh trên biển.

  • 1906 Kiểm điểm và phát triển Công ước Giơ-ne-vơ 1864

  • 1907 Kiểm điểm lại và phát triển Công ước La-hay năm 1899 và thông qua các Công ước mới.

  • 1925 Nghị định thư Giơ-ne-vơ về việc cấm sử dụng chất gây ngạt chất độc hoặc các loại khí độc hại hoặc sử dụng vũ khí vi trùng trong chiến tranh.

  • 1929 Hai Công ước Giơ-ne-vơ:

    • Kiểm điểm và phát triển các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1906

    • Công ước Giơ-ne-vơ liên quan tới việc đối xử với tù binh chiến tranh (mới)

    • 1949 Bốn Công ước Giơ-ne-vơ:

    • I Cải thiện tình trạng cho thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ trang chiến đấu trên bộ

    • II Cải thiện tình trạng của thương binh bệnh binh và những người đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển

    • III Đối xử với tù binh chiến tranh

    • IV Bảo vệ thường dân trong thời gian chiến tranh (mới)

    • 1954 Công ước La-hay bảo vệ các tài sản văn hóa khi xảy ra xung đột vũ trang.

    • 1972 Công ước về cấm phát triển sản xuất và tàng trữ các loại vũ khí vi trùng (sinh học) và vũ khí độc hại cũng như về sự hủy diệt của các loại vũ khí đó.

    • 1977 Hai nghị định thư bổ sung cho bốn Công ước Giơ-ne-vơ. Hai Nghị định thư này củng cố việc bảo hộ các nạn nhân của xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế (Nghị định thư 1) và trong xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế (Nghị định thư II).

    • 1980 Công ước về cấm hoặc hạn chế việc sử dụng một số loại vũ khí công ước - là những loại vũ khí có thể gây nên số thương vong quá mức hoặc có thể gây ra những hậu quả không lường hết được bao gồm:

    • Nghị định thư I về những mảnh vỡ không phát hiện được.

    • Nghị định thư II về cấm hoặc hạn chế sử dụng mìn bẫy chông hoặc các loại vũ khí khác.

    • Nghị định thư III về việc cấm hoặc hạn chế sử dụng những vũ khí gây cháy.

  • 1993 Công ước về cấm phát triển sản xuất tàng trữ và sử dụng các loại vũ khí hóa học và về sự hủy diệt của chúng.

  • 1995 Nghị định thư liên quan tới các loại vũ khí la-de gây mù mắt (Nghị định thư IV mới đối với Công ước 1980)

  • 1996 Nghị định thư về cấm hoặc hạn chế sử dụng mìn bẫy chông và các loại vũ khí khác (Nghị định thư II được sửa đổi đối với Công ước năm 1980).

  • 1997 Công ước về cấm sử dụng tàng trữ sản xuất và chuyển giao các loại mìn sát thương cá nhân và về sự hủy diệt của chúng.

  •  

    More...

    LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ (tiếp theo)

    By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh


       

    Nguồn gốc của các Công ước năm 1949

    Năm 1874 một Hội nghị ngoại giao đã được triệu tập tại Brúc-xen theo sáng kiến của Sa hoàng A-léc-xăng-đơ Đệ nhị. Hội nghị đã thông qua bản Tuyên ngôn quốc tế về các đạo luật và tập quán về chiến tranh. Tuy nhiên văn kiện đó không được phê chuẩn vì một số quốc gia ngần ngại chưa muốn chịu sự ràng buộc của đạo luật. Mặc dầu vậy dự thảo Brúc-xen đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong việc pháp điển hóa các đạo luật về chiến tranh.

    Năm 1934 Hội nghị quốc tế CTĐ lần thứ 15 đã họp tại Tô-ky-ô và thông qua văn kiện "Công ước Quốc tế về những điều kiện và việc bảo hộ thường dân mang quốc tịch của quốc gia đối địch đang sinh sống trên lãnh thổ thuộc/hoặc bị chiếm đóng bởi quốc gia đối địch" do UBCTĐQT dự thảo. Văn kiện cũng không nhận được sự ủng hộ tích cực các chính phủ vẫn từ chối việc triệu tập một Hội nghị ngoại giao để quyết định thông qua. Kết quả là Dự thảo Tô-ky-ô đã không được áp dụng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai nên đã không ngăn chặn được hậu quả tàn khốc của chiến tranh mà tất cả chúng ta đều đã biết.

    Nguồn gốc các Nghị định thư năm 1977

    Các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc hình thành Luật Nhân đạo. Tuy nhiên sau quá trình phi thực dân hóa các quốc gia mới thành lập thấy khó có thể chấp nhận việc bị ràng bược bởi những đạo luật mà bản thân họ không được tham gia chuẩn bị. Hơn thế nữa những quy tắc ứng xử khi xảy ra xung đột cũng không tiến triển kể từ Công ước La-hay năm 1907. Tuy nhiên do việc sửa đổi các Công ước Giơ-ne-vơ có thể tạo nên những thách thức cho một số sự tiến bộ đạt được năm 1949 nên đã dẫn tới quyết định thông qua hai văn kiện mới dưới hình thức Nghị định thư bổ sung cho các Công ước Giơ-ne-vơ nhằm củng cố việc bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang.

    Các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 và hai Nghị định thư bổ sung năm 1977 bao gồm khoảng 600 điều khoản và là những văn kiện chủ yếu của Luật Nhân đạo Quốc tế.

    Công ước 1
     

    Công ước 2
     

    Công ước 3
     

    Công ước 4
     

    Những chủ thể nào chịu sự ràng buộc của các Công ước Giơ-ne-vơ?

    Chỉ các quốc gia mới có thể tham gia các Hiệp ước quốc tế do đó chỉ các quốc gia mới được tham gia ký kết các Công ước Giơ-ne-vơ và các Nghị định thư bổ sung.

    Tính đến giữa năm 2003 hầu hết các quốc gia trên thế giới chính xác là 191 nước đã ký kết các Công ước Giơ-ne-vơ. Như vậy các Công ước này đã thuộc số các Công ước có số nước phê chuẩn đông nhất và được công nhận mang tính chất quốc tế. Đối với hai Nghị định thư bổ sung tính đến đầu năm 1998 thì có 150 nước tham gia Nghị định thư I và 142 nước tham gia Nghị định thư II.

    Ai có nghĩa vụ phổ biến kiến thức về các Công ước và Nghị định thư?

    Các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý phổ biến rộng rãi kiến thức về các Công ước và Nghị định thư:

    Các bên tham gia Công ước cam kết phổ biến nội dung các Công ướ này càng rộng rãi càng tốt trong đất nước của mình cả trong thời bình và thời chiến và trong chừng mực có thể nên đưa nội dung Công ước vào các chương trình huấn luyện quân sự và đưa vào các chương trình giáo dục dân sự làm sao cho những nguyên tắc của Công ước được thông suốt trong toàn thể nhân dân đặc biệt là trong các lực lượng vũ trang chiến đấu trong các nhân viên y tế và trong các giáo sĩ. (Điều 47 48 127 và 144 của các Công ước Giơ-ne-vơ I II III và IV theo thứ tự).

    Các bên tham gia Nghị định thư cam kết phổ biến nội dung các Công ước và Nghị định thư này trong đất nước của mình càng rộng rãi càng tốt cả trong thời bình cũng như trong thời chiến đặc biệt là đưa nội dung Công ước và Nghị định thư này vào các chương trình huấn luyện quân sự và khuyến khích người dân hiểu biết về các Công ước và Nghị định thư làm sao để nội dung của các Công ước và Nghị định thư đó được các lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân thông suốt. (Điều 83 Nghị định thư I).

    "Nghị định thư này cần được phổ biến càng rộng rãi càng tốt". (Điều 19 Nghị định thư II).

    UBCTĐQT và nhiệm vụ phổ biến rộng rãi Luật Nhân đạo

    Theo Điều lệ của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế một trong các nhiệm vụ của UBCTĐQT là:

    (...) hoạt động sao cho sự hiểu biết và sự phổ biến kiến thức về Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng vào các cuộc xung đột vũ trang và chuẩn bị bất cứ sự phát triển nào nảy sinh từ các cuộc xung đột đó. (Điều 5 đoạn 2g).

    (...) Duy trì quan hệ chặt chẽ với các Hội quốc gia (...) về những vấn đề các bên cùng quan tâm ví dụ: phối hợp chuẩn bị hành động khi xảy ra xung đột vũ trang; tôn trọng phát triển và phê chuẩn các Công ước Giơ-ne-vơ; và phổ biến những nguyên tắc chủ yếu của các Công ước Giơ-ne-vơ cũng như của Luật Nhân đạo Quốc tế. (Điều 5 đoạn 4a).

    Thế nào là luật hạn chế sử dụng vũ lực (Jus ad bellum) và Luật thời chiến (Jus in bello)?

    Mục đích của Luật Nhân đạo Quốc tế là hạn chế những đau khổ do chiến tranh gây ra thông qua việc bảo hộ và giúp đỡ các nạn nhân theo khả năng cao nhất của mình. Bởi vậy luật nêu lên thực trạng của xung đột mà không quan tâm tới lý do hoặc tính chất pháp lý của việc sử dụng vũ lực. Luật chỉ quy định các yếu tố liên quan đến vấn đề nhân đạo trong cuộc xung đột. Đó chính là luật thời chiến (Jus in bello). Các điều khoản của đạo luật này được áp dụng cho các bên tham chiến mà không quan tâm tới lý do của cuộc xung đột cũng như nguyên nhân đúng/sai của bất cứ bên nào.

    Trong những cuộc xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế thường rất khó xác định quốc gia nào vi phạm Hiến chương của Liên Hợp Quốc. Việc áp dụng Luật Nhân đạo Quốc tế không bao gồm sự lên án bên nào phạm tội vì điều đó dễ làm nổ ra tranh luận dẫn tới việc làm tê liệt việc thực thi đạo luật này vì bên nào cũng tự nhận mình là nạn nhân của sự xâm lược. Hơn thế nữa Luật Nhân đạo vốn chỉ nhằm bảo vệ nạn nhân chiến tranh và những quyền cơ bản của họ mà không phân biệt họ thuộc bên tham chiến nào. Điều đó giải thích tại sao luật thời chiến (jus in bello) lại độc lập với luật về sử dụng vũ lực hay còn gọi là luật phòng ngừa trong chiến tranh (tiếng La tinh là: jus ad bellum hay jus contra bellum).

    Về ngăn ngừa chiến tranh:

    Mãi tới khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất việc sử dụng vũ lực vẫn được coi là hành động bất hợp pháp nhưng được thừa nhận để giải quyết những bất đồng.

    Điều lệ của Hội Quốc liên năm 1919 và Hiệp định Pa-ri (Hiệp ước Briand-Kellogg) năm 1928 đều nhằm ngăn ngừa chiến tranh. Việc thông qua Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1945 đã khẳng định khuynh hướng: "Trong mối bang giao quốc tế không cho phép các thành viên của Liên Hợp Quốc sử dụng những biện pháp đe dọa hoặc sử dụng vũ lực (...)".

    Tuy nhiên khi một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia bị một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia khác tấn công thì Hiến chương cho phép được sử dụng quyền phản ứng tự vệ cá nhân hoặc tập thể. Theo quy định tại Chương VII của Hiến chương Liên Hợp Quốc Hội đồng Bảo an cũng có thể quyết định việc sử dụng vũ lực tập thể. Điều này bao gồm:

    • Sử dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các quốc gia đang đe dọa an ninh quốc tế nhằm mục đích khôi phục nền hòa bình.

    • Sử dụng các biện pháp gìn giữ hòa bình thông qua các hình thức: cử quan sát viên hay các lực lượng gìn giữ hòa bình.

    Một trường hợp khác được nêu trong khuôn khổ quyền tự quyết của các dân tộc; trong nghị quyết số 2105 (khóa XX) thông qua năm 1965 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã "công nhận tính chất chính đáng của cuộc đấu tranh chống ách đô hộ thực dân đòi thực hiện quyền tự quyết và độc lập của các dân tộc (...)".

    Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng trong những hoàn cảnh nào?

    Luật dành cho những đối tượng nào và nhằm bảo vệ ai?

    Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng trong hai trường hợp. Nói như vậy có nghĩa là luật áp dụng hai hình thức bảo vệ sau đây:

    A Xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế:

    Khi xảy ra xung đột vũ trang có tính chất quốc tế bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung I sẽ được áp dụng.

    Luật Nhân đạo nhằm chủ yếu vào các bên tham chiến đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người nằm ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến ví dụ:

    • Binh sĩ bị ốm hoặc bị thương trên chiến trường; và các nhân viên y tế phục vụ trong các lực lượng vũ trang.

    • Binh sĩ bị ốm bị thương hoặc bị đắm tàu thuộc lực lượng hải quân; và các nhân viên y tế phục vụ trong ác lực lượng hải quân.

    • Tù binh chiến tranh

    • Dân thường ví dụ:

    •  
      •  
        • Người nước ngoài sống trên lãnh thổ các bên tham gia xung đột kể cả người tỵ nạn.

        • Thường dân sống trên lãnh thổ bị chiếm đóng.

        • Thường dân bị bắt giữ hoặc bị cầm tù.

        • Các nhân viên y tế tôn giáo hoặc phòng hộ dân sự.

    Các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc như quy định tại điều 1 của Nghị định thư bổ sung I được liệt vào dạng xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế.

    B Xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế:

    Khi xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế sẽ áp dụng điều 3 chung của bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung II.

    Cần lưu ý rằng những điều kiện áp dụng của Nghị định thư II chặt chẽ hơn nhiều so với những điều kiện quy định ở điều 3. Trong tình hình đó Luật Nhân đạo nhằm vào các lực lượng vũ trang tham gia chiến đấu mà không phân biệt chính quy hay không chính quy đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người đứng ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến ví dụ:

    •  
      • Thương binh hoặc bệnh binh

      • Những người bị tước quyền tự do hậu quả của cuộc xung đột.

      • Dân thường

      • Các nhân viên y tế và tôn giáo.

    Luật Nhân đạo với vấn đề xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế

    Điều 3 chung cho cả 4 Công ước được xem như một Hiệp ước thu nhỏ. Những đạo luật về nội chiến mặc dù đã được đề cập trong một số điều khoản của Nghị định thư II vẫn không đầy đủ như những quy tắc đối với xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế. Đứng trước nguyên tắc chủ quyền của quốc gia thường rất khó củng cố hệ thống bảo vệ trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế.

    Những quy tắc nêu trong Điều 3 được xem như là luật tập quán và biểu thị mức tiêu chuẩn tối thiểu mà các bên tham chiến phải tôn trọng.

    Luật nào được áp dụng trong trường hợp xảy ra nội chiến hoặc bạo động trong phạm vi một nước?

    Luật Nhân đạo Quốc tế không áp dụng vào bối cảnh tình hình mà ở đó bạo lực không biến thành xung đột vũ trang. Những trường hợp như vậy sẽ được hướng dẫn bằng các điều khoản của luật về quyền con người cũng như viện dẫn luật pháp của quốc gia.

    Luật Nhân đạo có áp dụng đối với những cuộc xung đột "mới" không?

    Ngày nay người ta nói rất nhiều về những cuộc xung đột "mới. Thuật ngữ này nhằm miêu tả hai dạng xung đột: xung đột kiểu "tự phát" và xung đột "sắc tộc". Các thuật ngữ này chỉ có ý nghĩa tương đối.

    Xung đột tự phát: hậu quả tất yếu nảy sinh từ sâu Chiến tranh lạnh. Dạng xung đột này thường biểu hiện bằng sự suy yếu từng phần hoặc đôi khi tan rã hoàn toàn cơ cấu nhà nước. Trong bối cảnh đó một số phe nhóm có vũ trang đã lợi dụng khoảng trống chính trị hòng cướp chính quyền. Tuy nhiên dạng xung đột này trước hết thường gây nên sự suy yếu hoặc tan rã của hệ thống chỉ huy chính ngay trong nội bộ các phe nhóm có vũ trang đó.

    Xung đột sắc tộc: là kiểu xung đột nhằm loại bỏ kẻ thù bằng thủ đoạn gọi là "huỷ diệt dân tộc". Đặc tính của thủ đoạn này là nhằm cưỡng chế di cư hoặc thậm chí tàn sát hủy diệt dân chúng. Chịu ảnh hưởng của những cuộc tuyên truyền dồn dập của bạo lực và của sự hận thù kiểu xung đột này thường tạo nên một động lực kích động tinh thần của phe nhóm gây bất lợi cho bản sắc dân tộc hiện hành qua đó loại trừ hẳn khả năng cùng chung sống hòa bình với những phe nhóm khác.

    Luật Nhân đạo Quốc tế hiện vẫn áp dụng đối với xung đột kiểu "tự phát" và "xung đột sắc tộc" bởi vì các cuộc xung đột đó đã lôi cuốn dân thường vào các hoạt động bạo lực. Điều 3 chung yêu cầu tất cả các phe nhóm có trang bị vũ trang dù họ có tham gia hoạt động nổi loạn hay không phải tôn trọng những người đã buông vũ khí và những người đứng ngoài vòng chiến.

    Kết cục là không phải vì cơ cấu của một quốc gia bị suy yếu hoặc không tồn tại tạo ra khoảng trống pháp lý đối với luật pháp quốc tế. Trái lại rõ ràng là trong những bối cảnh tình hình như trên mà Luật Nhân đạo đã trở thành có hiệu lực.

    Tuy nhiên phải thừa nhận rằng: rất khó áp dụng Luật Nhân đạo đối với những kiểu xung đột nêu trên. Việc thiếu tính kỷ luật giữa những bên tham chiến việc trang bị vũ khí cho thường dân tràn lan khắp lãnh thổ và việc ngày càng thiếu sự phân biệt rõ ràng giữa lính chiến và dân thường v.v... vẫn gây nên những cuộc đụng độ dẫn tới hậu quả tàn khốc mà hầu như ở đó khó có cơ hội để vận dụng Luật Nhân đạo.

    Kết quả là trong những bối cảnh tình hình đã nêu trên cần phát huy mọi nỗ lực để phổ biến Luật Nhân đạo thật rộng rãi. Dẫu rằng kiến thức tốt hơn về các quy tắc chiến tranh có thể chưa giải quyết được những vấn đề nổi cộm là nguyên nhân làm nảy sinh xung đột nhưng nó có khả năng làm giảm bớt hậu quả thảm khốc do các cuộc xung đột gây ra.

    Điều 3 chung: Một Hiệp định thu nhỏ.

    Trong trường hợp xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế xảy ra trên lãnh thổ của một bên ký kết thì mỗi bên tham gia xung đột phải chịu sự ràng buộc pháp lý tối thiểu của những điều khoản dưới đây:

    1 Những người nằm ngoài vòng chiến bao gồm cả những người đã hạ vũ khí và những người đã bị loại ra khỏi vòng chiến do bị ốm bị thương bị giam giữ hoặc do bất kỳ nguyên nhân nào khác thì trong mọi trường hợp sẽ được đối xử nhân đạo mà không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc màu da tôn giáo hay tín ngưỡng giới tính quốc tịch giàu nghèo hoặc bất cứ một tiêu chuẩn nào khác.

    Để đạt được mục đích này các hành vi dưới đây đối với những đối tượng kể trên bị nghiêm cấm bất cứ lúc nào và ở đâu:

    1. Xâm phạm đến tính mạng và thân thể đặc biệt là giết hại bằng mọi hình thức làm cho bị tàn phế đối xử thô bạo tra tấn và dùng nhục hình.
    2. Bắt làm con tin.
    3. Xúc phạm đến nhân phẩm nhất là hình thức đối xử hạ nhục làm mất phẩm giá của con người.
    4. Tuyên án và hành quyết mà không có sự xét xử của một tòa án được thành lập theo thông lệ nhằm bảo đảm tính chất xét xử pháp lý thiết yếu mà loài người văn minh đã công nhận.

    2 Những người bị thương và bị bệnh cần phải được thu gom và chăm sóc.

    Một cơ quan nhân đạo và vô tư chẳng hạn như UBCTĐQT có thể tự đề nghị được giúp đỡ các bên trong cuộc xung đột.

    Các bên xung đột qua những cách thức thỏa thuận đặc biệt cần tỏ ra cố gắng hơn để thực hiện toàn bộ hay một số điều khoản của Công ước này.

    Việc áp dụng những điều khoản trên đây sẽ không gây ảnh hưởng gì đến tính chất pháp lý của các bên trong cuộc xung đột.

    Quá trình hình thành Luật Nhân đạo ra sao? Và Luật có những phát triển gì mới nhất?

    Được coi là khởi xướng Luật Nhân đạo ngày nay (ví dụ: Công ước Giơ-ne-vơ năm 1864) UBCTĐQT cố gắng đảm bảo giá trị pháp lý của ngành Công pháp quốc tế này. Do đó UBCTĐQT đóng vai trò:

    • Giám sát sự thay đổi của tính chất các cuộc xung đột vũ trang.
    • Tổ chức các cuộc tư vấn để xác định khả năng đạt được thỏa thuận về những quy tắc mới.
    • Chuẩn bị dự thảo các văn kiện để trình lên các Hội nghị ngoại giao.

    Sự kiện về hai Nghị định thư bổ sung đã đưa đến ý tưởng về sự hình thành của Luật Nhân đạo: từ lúc sơ thảo đến lúc được thông qua:

    • Trên cơ sở dự thảo những quy tắc được chuẩn bị từ năm 1956 và sau là những nghị quyết được Hội nghị Chữ thập đỏ quốc tế và Hội nghị nhân quyền quốc tế họp tại Tê-hê-ran thông qua năm 1958 UBCTĐQT nghiên cứu khả năng bổ sung các Công ước Giơ-ne-vơ thông qua năm 1949.
    • Năm 1969 UBCTĐQT trình ý tưởng nói trên lên Hội nghị Chữ thập đỏ lần thứ 21 họp tại It-stăng-bun: đại biểu các nước thành viên các Công ước Giơ-ne-vơ đã ủy thác ý tưởng đó một cách phù hợp cho UBCTĐQT và các luật gia của UBCTĐQT lập tức bắt tay vào công việc trù bị.
    • Vào giữa năm 1971 và 1974 UBCTĐQT đã tổ chức nhiều cuộc tư vấn với các chính phủ và Phong trào đồng thời thường xuyên gửi báo cáo tiến độ thực hiện tới Liên Hợp quốc.
    • Năm 1973 Hội nghị Chữ thập đỏ quốc tế lần thứ 22 đã họp tại Tê-hê-ran. Hội nghị đã xem xét văn kiện các dự thảo trên và bày tỏ ý kiến ủng hộ hoàn toàn.
    • Tháng 2/1974 chính phủ Thụy Sĩ với tư cách là nước nộp lưu chiểu các Công ước Giơ-ne-vơ 1949 đã triệu tập tại Giơ-ne-vơ Hội nghị ngoại giao về việc khẳng định và phát triển Luật Nhân đạo Quốc tế áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang. Hội nghị đã họp bốn phiên và kết thúc vào 6/1977.
    • Tại phiên họp toàn thể cuối cùng của Hội nghị 102 đại biểu đại diện cho các quốc gia tham dự đã thông qua 102 điều của Nghị định thư I và 28 điều của Nghị định thư II.

    Một số phát triển gần đây nhất

    Được thông qua tại Hội nghị ngoại giao họp tại Viên tháng 10/1995 Nghị định thư liên quan tới những vũ khí la-de gây mù mắt đã cấm việc sử dụng và chuyển giao các loại vũ khí la-de vì chúng có tính năng gây mù mắt vĩnh viễn nếu sử dụng vào cuộc chiến. Nghị định thư cũng yêu cầu các quốc gia áp dụng những biện pháp phòng ngừa thích hợp kể cả việc huấn luyện trong các lực lượng vũ trang nhằm tránh gây mù mắt vĩnh viễn do sử dụng bừa bãi các hệ thống la-de khác.

    Đối với trường hợp mìn thông qua việc bổ sung văn kiện Nghị định thư về cấm và hạn chế sử dụng mìn bẫy chông và các loại vũ khí khác phạm vi áp dụng của Nghị định thư II đối với Công ước năm 1980 (xem trang 11) đã được mở rộng và sửa đổi tại Giơ-ne-vơ vào 3/1976. Hơn thế nữa Công ước về cấm sử dụng tàng trữ sản xuất và chuyển giao mìn sát thương cá nhân và về sự hủy diệt của mìn đã được 121 nước ký tại Ôt-ta-wa (3-4/12/1997).

    Những thỏa thuận của Luật Nhân đạo Quốc tế về các quy tắc áp dụng cho vấn đề bảo vệ môi trường được ghi trong điều 55 của Nghị định thư bổ sung I và trong Công ước ngày 10/12/1976 về cấm tiến hành các hoạt động quân sự và hoạt động thù địch làm biến đổi môi trường sinh thái.

    Tuy nhiên chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 đã cho thấy: các quy tắc trên chỉ được ít người biết tới và đôi khi có biết thì cũng thiếu chính xác. Vì vậy nên năm 1994 với sự khích lệ của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc và với sự trợ giúp của các chuyên gia về các lĩnh vực trên UBCTĐQT đã dự thảo cuốn Sổ tay hướng dẫn quân sự và hướng dẫn việc bảo vệ môi trường khi xảy ra xung đột vũ trang.

    Một sự phát triển mới khác gần đây nhất là cuốn sở tay San Rê-mô (San Remo) về vấn đề áp dụng luật quốc tế đối với các cuộc xung đột vũ trang trên biển. Cuốn sách này - được Viện quốc tế về Luật Nhân đạo thực hiện với sự hỗ trợ của UBCTĐQT có một vai trò quan trọng vì đã được các chính phủ công nhận bằng một nghị quyết được thông qua tại Hội nghị Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế lần thứ 26 họp tại Giơ-ne-vơ năm 1995.

    Mặc dầu các Công ước Giơ-ne-vơ và các Nghị định thư bổ sung không nói rõ việc cấm sử dụng vũ khí nguyên tử song những nguyên tắc chung của Luật Nhân đạo Quốc tế đã đựoc áp dụng vào các trường hợp như vậy. Chẳng hạn trong số các nguyên tắc của luật có nguyên tắc: trong mọi hoàn cảnh các bên tham chiến phải phân biệt giữa binh lính và dân thường đồng thời cấm sử dụng những loại vũ khí có thể gây nên những đau đớn không cần thiết. Việc áp dụng những nguyên tắc này đối với các vũ khí nguyên tử đã được Tòa án quốc tế La-hay tái khẳng định vào năm 1996.

    Luật Nhân đạo có thể cung cấp cơ sở vật chất gì cho các nạn nhân của xung đột vũ trang?

    Các quốc gia thành viên Công ước Giơ-ne-vơ đều chấp nhận việc các nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang có quyền được nhận những đồ dùng thiết yếu cho cuộc sống của mình. Quyền này đã được phát triển thêm với việc thông qua hai Nghị định thư bổ sung năm 1977.

    Khi xảy ra xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế quyền nhận cứu trợ bao gồm:

    • Không được giữ lại những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống của thường dân (điều 23 của Công ước thứ tư dự thảo đề phòng những trường hợp bị cấm vận).
    • Nước chiếm đóng có nhiệm vụ đảm bảo cung cấp mọi thứ cần thiết cho nhân dân trên lãnh thổ bị chiếm đóng (điều 55 của Công ước thứ tư). Trong trường hợp không thể đáp ứng nổi các nhu cầu nước chiếm đóng phải cho phép nhận tiếp tế từ các nguồn bên ngoài (điều 59 của Công ước thứ tư).

    Nghị định thư I (Điều 69 và 70) củng cố thêm các quy tắc đã được thông qua năm 1945. Ví dụ: một quốc gia đang có chiến tranh phải chấp nhận kế hoạch cứu trợ mang tính nhân đạo và vô tư kế hoạch đó được tiến hành không có sự phân biệt đối xử và được sự thỏa thuận của tất cả các bên liên quan. Trong trường hợp thỏa mãn các điều kiện như: không can thiệp vào cuộc xung đột vũ trang cũng không tham gia vào các hoạt động thù địch v.v... mà bên tham gia xung đột vẫn từ chối sự tiếp nhận cứu trợ thì đó là hành động sai lầm.

    Khi xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế Nghị định thư II (Điều 18) nêu cụ thể: Nếu thường dân đang phải chịu khổ cực quá mức do thiếu nguồn cung cấp thiết yếu cho cuộc sống các hoạt động cứu trợ mang tính chất nhân đạo và vô tư phải được các bên tham chiến chấp nhận và được tiến hành không phân biệt đối xử. Ngày nay vấn đề một quốc gia phải cho phép tiến hành các hoạt động cứu trợ mang tính nhân đạo thuần túy đã trở nên phổ biến.

    Luật Nhân đạo và "quyền can thiệp vì lý do nhân đạo"

    Cho tới nay "quyền hoặc nghĩa vụ can thiệp" bao hàm ý nghĩa của quyền can thiệp vũ trang được thực hiện vì lý do nhân đạo vấn đề ở chỗ sự can thiệp đó không được thực hiện theo quy định của Luật Nhân đạo mà theo những quy tắc có tính chất pháp lý về quyền sử dụng vũ lực trong mối bang giao quốc tế ví dụ như luật về sử dụng các phương tiện chiến tranh trong thời chiến.

    Nếu xảy ra can thiệp vũ trang vì lý do nhân đạo thì UBCTĐQT trong phạm vi nhiệm vụ được ủy thác phải đảm bảo sao cho các bên tham gia can thiệp tôn trọng các quy tắc liên quan của Luật Nhân đạo Quốc tế và phải nỗ lực giúp đỡ các nạn nhân trong cuộc xung đột.

    UBCTĐQT không phản đối và cũng không ủng hộ "quyền can thiệp". Theo kinh nghiệm riêng UBCTĐQT cho rằng việc can thiệp như vậy thường mang tính chất chính trị nên nếu để bị lôi cuốn vào đó sẽ gây tổn hại cho công tác cứu trợ nhân đạo của mình.

    Luật Nhân đạo có những quy định gì đối với vấn đề khôi phục liên lạc với gia đình?

    Là hậu quả của xung đột vũ trang tù binh chiến tranh và dân thường bị bắt giữ phải sống cách biệt với gia đình vì vậy nên cảnh gia đình bị ly tán hoặc các thành viên bị lưu lạc. Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư I bao gồm nhiều điều khoản pháp lý bảo vệ các nạn nhân kể trên. Những điều khoản này được áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế và UBCTĐQT được ủy thác thực hiện các nhiệm vụ sau:

    1.Chuyển thông điệp và các loại thông tin khác đến gia đình bao gồm:

    Nhận và đăng ký thẻ tù cho tù binh chiến tranh và tù thường phạm; nhân đôi số thẻ đó và gửi một thẻ cho gia đình người bị bắt.

    Chuyển thư của những người bị bắt về gia đình họ.

    Chuyển tin tức của gia đình (Nhắn tin chữ thập đỏ) tới những người bị bắt nếu hệ thống bưu điện thông thường bị gián đoạn hoặc bị cắt đứt.

    Nhận và chuyển thông tin về những người bị chết.

    Gần đây nhất Trung tâm Tìm kiếm trung ương của UBCTĐQT hoạt động như một bên trung gian giữa các bên tham gia xung đột hay nói một cách chính xác hơn là giữa các Văn phòng Thông tin liên lạc quốc gia để trung chuyển những thông tin về những đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của Luật Nhân đạo.

    2. Yêu cầu thông tin về những người bị mất tích (Điều 33 của Nghị định thư I)

    3. Đoàn tụ những gia đình bị ly tán. (Điều 74 của Nghị định thư I).

    Văn phòng thông tin quốc gia

    Công ước Giơ-ne-vơ thứ ba (điều 122) đã quy định: ngay khi cuộc xung đột nổ ra bên trung lập hay bên tham chiến mà nhận tù binh vào lãnh thổ của mình đều phải lập một Phòng Thông tin chính thức về các tù binh mà họ đang nắm giữ. Mỗi bên trong cuộc xung đột phải cung cấp cho Phòng Thông tin của mình danh sách các tù nhân (kèm theo các chi tiết liên quan) bị các lực lượng vũ trang bắt giữ vì thế thân nhân người bị bắt sẽ được thông báo kịp thời. Nếu không có các văn phòng như vậy (chuyện thường xảy ra khi xung đột) thì UBCTĐQT sẽ tiến hành thu thập các thông tin về những đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của Công ước Giơ-ne-vơ.

    Trung tâm tìm kiếm

    "Một cơ quan Trung ương thông tin về tù binh chiến tranh sẽ được thành lập ở một nước trung lập. Nếu cần thiết thì UBCTĐQT có thể đề nghị với các nước hữu quan thành lập một cơ quan như thế. Cơ quan này có nhiệm vụ tập hợp mọi thông tin liên quan đến tù binh chiến tranh thu được qua các kênh chính thức hay kênh riêng và chuyển những thông tin đó đến nước nguyên quán của tù binh chiến tranh hay đến nước mà họ thuộc quyền trong thời hạn sớm nhất có thể (...)". (Điều 123 của Công ước Giơ-ne-vơ thứ ba).

    Gia đình ly tán

    "Mỗi bên trong cuộc xung đột cần phải tạo mọi điều kiện dễ dàng đối với các yêu cầu của thân nhân các gia đình bị ly tán trong chiến tranh nhằm mục đích giúp họ nối lại liên hệ gia đình và gặp gỡ nếu có thể (...)". (Điều 26 Công ước Giơ-ne-vơ thứ tư).

    Những điều khoản nào của Luật Nhân đạo hướng dẫn việc sử dụng biểu tượng?

    Các Công ước Giơ-ne-vơ nêu ra bao loại biểu tượng: Chữ thập đỏ Lưỡi liềm đỏ Sư tử và Mặt trời đỏ. Nhưng ngày nay chỉ sử dụng hai dạng biểu tượng đầu tiên còn biểu tượng Sư tử và Mặt trời đỏ không được sử dụng nữa.

    Các Công ước và Nghị định thư bổ sung bao gồm nhiều điều khoản về biểu tượng. Một số điều khoản nêu cụ thể cách thức sử dụng kích cỡ mục đích và nơi đặt biểu tượng đối tượng và tài sản được sử dụng biểu tượng phải tôn trọng biểu tượng ra sao và biện pháp trừng phạt đối với sự lạm dụng biểu tượng thế nào.

    Khi xảy ra xung đột vũ trang biểu tượng được sử dụng như tín hiệu bảo vệ chỉ trong các trường hợp sau:

    • Các đơn vị cứu thương của các lực lượng vũ trang;
    • Các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia được các chính phủ hoàn toàn công nhận và ủy nhiệm làm công tác y tế trong các lực lượng vũ trang. Các Hội quốc gia có thể sử dụng các biểu tượng như tín hiệu bảo vệ cho các nhân viên và trang thiết bị y tế khi chính thức tham gia phục vụ trong thời chiến với điều kiện là các nhân viên và trang thiết bị đó có cùng nhiệm vụ và phải tuân thủ các quy tắc và điều lệnh quân sự;
    • Các bệnh viện dân sự và các trạm y tế khác được Chính phủ công nhận và cho phép sử dụng biểu tượng làm tín hiệu bảo vệ (ví dụ: các trạm sơ cấp cứu xe cứu thương v.v...);
    • Các cơ quan cứu trợ tình ngu

      More...

      UỶ BAN CHỮ THẬP ĐỎ QUỐC TẾ

      By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh

      I. Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế II. Luật Nhân đạo Quốc tế III. Biểu tượng
       

      I/ ỦY BAN CHỮ THẬP ĐỎ QUỐC TẾ 

      1. Nguồn gốc lịch sử:

      Sự ra đời của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế xuất phát từ tầm nhìn và quyết định của một người.

      Thời điểm: 24/6/1859

      Địa điểm: Solferino một thị trấn ở phía Bắc nước Ý.

      Quân Áo và quân Pháp quần nhau trong một trận đánh và sau 16 giờ chiến đấu trên bãi chiến trường có hơn 40.000 quân chết hoặc bị thương. Trong buổi chiều hôm đó một công dân Thụy Sĩ là Henri Dunant trên đường công việc tình cờ đi qua nơi đây. Dunant hết sức kinh hoàng trước hàng ngàn con người của cả hai bên tham chiến bị quằn quại đau đớn và rất cần được cứu chữa. Dunant liền hô hào dân chúng tại chỗ giúp ông chăm sóc những binh lính bị thương không phân biệt là của bên nào.

      Khi trở về Thụy Sĩ Dunant viết cuốn Hồi ký về Solferino trong đó ông nêu hai lời kêu gọi trịnh trọng:

      • Trong thời bình cần thành lập những tổ chức cứu trợ gồm những y tá sẵn sàng chăm sóc người bị thương khi có chiến tranh.

      • Những người tình nguyện này sẽ hỗ trợ cho y tế quân đội cần được công nhận và bảo vệ bởi một thỏa ước quốc tế.

      Năm 1863 Hội phúc lợi công cộng thành phố Geneva là một Hội từ thiện của thành phố triệu tập một Ủy ban 5 thành viên để nghiên cứu cách thức hiện đề xuất của Dunant. Ủy ban gồm Gustave Moynier Guillaume-Henri Dufour Louis Appia Theodore Maunoir và bản thân Henri Dunant đã lập ra Ủy ban Quốc tế cứu trợ thương binh là tiền thân của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế sau này.

      Năm người này đã thực hiện ý kiến của Dunant viết trong cuốn hồi ký của ông. Đáp lời kêu gọi của Ủy ban 16 chính phủ và 4 tổ chức từ thiện đã cử đại biểu tham dự hội nghị quốc tế họp tại Geneva ngày 26/10/1863. Hội nghị đã chọn biểu tượng để nhận dạng là chữ thập đỏ trên nền trắng từ đó Chữ thập đỏ đã ra đời.

      Năm 1864 chính phủ Thụy Sĩ triệu tập một Hội nghị ngoại giao họp tại Geneva để kêu gọi sự ủng hộ quốc tế công nhận tổ chức và ý tưởng Chữ thập đỏ và chính thức hóa việc bảo vệ các đơn vị quân y trên chiến trường. Đại diện của 12 chính phủ tham dự và ký kết một hiệp ước gọi là "Công ước Geneva về cải thiện điều kiện cho thương binh trên chiến trường" và đó là công ước đầu tiên của Luật Nhân đạo. Sau đó có những hội nghị tiếp theo để mở rộng cơ sở của Luật cho những đối tượng nạn nhân khác ví dụ như đối với tù binh chiến tranh. Sau chiến tranh Thế giới lần thứ II một hội nghị ngoại giao được tổ chức thảo luận trong bốn tháng trao đổi và chuẩn y bốn Công ước Geneva năm 1949 bổ sung thêm việc bảo vệ dân thường trong chiến tranh. Năm 1977 có thêm hai Nghị định thư bổ sung cho Công ước.

      2. Tổ chức Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế:

      Ban Chấp hành: là cơ quan quyết định chính sách cao nhất của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế gồm từ 15-25 người mang quốc tịch Thụy Sĩ hoạt động với tư cách cá nhân. Các thành viên này được bầu vào nói một cách khác tức là những ai có khả năng thì được mời tham gia. Ban Chấp hành họp định kỳ để bàn về chủ trương đường lối chiến lược chung và kiểm tra các hoạt động của Hội.

      Ban Chấp hành chỉ có các ủy viên mang quốc tịch Thụy Sĩ là vì nguồn gốc sáng lập của nó tại Thụy Sĩ do những công dân một quốc gia mang truyền thống trung lập lâu đời. Tính chất đặc thù này của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế đảm bảo rằng các hoạt động của Ủy ban trên bình diện quốc tế sẽ hoàn toàn là nhân đạo độc lập trung lập vô tư. Nhưng không phải như vậy là chỉ có toàn nhân viên là người Thụy Sĩ. Với đường lối "toàn cầu hóa" ngày nay cả tại cơ quan Trung ương và thực địa Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế đã ngày càng tuyển dụng nhiều người không mang quốc tịch Thụy Sĩ.

      Nhân viên:

      Ủy ban thuê các bác sĩ lái xe kỹ sư nông nghiệp kiểm toán các nhà dinh dưỡng thư ký y tá thợ mộc luật gia thợ cơ khí... Trong nhiều trường hợp nhiều ngành nghề khác cũng được kêu gọi để cống hiến chuyên môn và sự nhiệt tình của họ cho sự nghiệp nhân đạo.

      Đại diện và chuyên gia

      Có hai loại cán bộ thực địa nước ngoài: các đại diện và chuyên gia. Những người tuổi từ 25 đến 35 có thể được đào tạo để trở thành các đại diện của Ủy ban. Họ cần có trình độ đại học hoặc tương đương sẵn sàng đi công tác lưu động nói tiếng Anh và tiếng Pháp có khả năng ngoại giao tháo vát có tính cách độc lập và hòa hợp làm việc với nhóm. Họ còn phải chuẩn bị để hoạt động trong những hoàn cảnh khó khăn có thể nguy hiểm cho tính mạng. Các đại diện phải đi thăm hỏi những người bị mất tự do tổ chức và thực hiện các chương trình cứu trợ và phổ biến Luật Nhân đạo Quốc tế.

      Ngoài ra còn những người khác thuộc nhiều ngành nghề cũng tham gia hoạt động cho Ủy ban thông thường từ 6-12 tháng. Những "chuyên gia" này cần có ba năm kinh nghiệm trong nghề chuyên môn khi bắt đầu làm việc cho Ủy ban. Việc tuyển dụng họ nhẹ nhàng hơn là các đại diện về mặt tuổi tác đời tư ngoại ngữ.

      Các kênh tuyển dụng và cơ hội nghề nghiệp

      Những công dân Thụy Sĩ được tuyển dụng trực tiếp tại cơ quan Trung ương của Ủy ban ở Geneva còn ứng viên không phải là công dân Thụy Sĩ thì nộp đơn tại Hội CTĐ-TLLĐ quốc gia. Việc tuyển dụng số ứng viên này dựa trên thỏa thuận giữa Ủy ban và Hội quốc gia.

      Các đại diện tại thực địa có thể được lên chức ví dụ Trưởng văn phòng Trưởng đoàn đại diện hoặc Trưởng đại diện khu vực hoặc đi chuyên vào các mặt hoạt động đặc thù với tư cách là điều phối viên về bảo hộ cứu trợ tìm kiếm.

      Với những đại diện có nhiều kinh nghiệm thì có khả năng về nhận nhiệm vụ cao hơn tại trụ sở Trung ương phụ trách các ban ngành hoạt động hoặc các lĩnh vực như quản lý nhân lực thông tin gây quỹ... Các chuyên gia cũng có thể được giao những nhiệm vụ cao hơn tại thực địa hoặc tại cơ quan Trung ương.

      Nguồn lực tại chỗ:

      Ủy ban cũng thuê những nhân viên địa phương để làm phiên dịch kế toán cán bộ thực địa trong các hoạt động như chăm sóc sức khỏe phân phối hàng cứu trợ thu thập các tin nhắn Chữ thập đỏ... Ngày càng có nhiều nhân viên nước này được phái đến công tác tại các cơ quan đại diện Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế ở nước khác.

      Tại những nước có Ủy ban hoạt động cán bộ CTĐ-TLLĐ địa phương làm việc cùng các đại diện cống hiến kỹ năng kiến thức và kinh nghiệm về đất nước và nhân dân nước mình.

      Ủy ban có các đoàn đại diện tại khoảng 60 nước trên thế giới và hoạt động trên hơn 80 quốc gia với số nhân viên khoảng 12.000 người mà đa số là công dân các nước nơi Ủy ban hoạt động. Gần 800 nhân viên hỗ trợ cho các hoạt động thực địa làm việc tại cơ quan Trung ương của Ủy ban ở Geneva Thụy Sĩ.

      Các đoàn đại diện tại thực địa thực hiện chủ yếu các hoạt động bảo vệ và giúp đỡ cho nạn nhân tại những nơi xảy ra xung đột vũ trang hoặc bạo động.

      Các đoàn đại diện khu vực hoạt động trong thời bình nhằm thúc đẩy và phổ biến Luật Nhân đạo Quốc tế đến các chính phủ các lực lượng vũ trang và các tổ chức bộ ngành. Trong tình hình có tiềm tàng bạo loạn và căng thẳng nội bộ các đoàn đại diện hoạt động như một hệ thống cảnh báo sớm để giúp Ủy ban nhanh chóng chuẩn bị cho mọi hành động nhân đạo kịp thời.

      3. Sứ mệnh của y ban Chữ thập đỏ Quốc tế

      Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế là một tổ chức vô tư trung lập và độc lập có sứ mệnh hoàn toàn nhân đạo là bảo vệ đời sống và nhân phẩm cho các nạn nhân chiến tranh và bạo loạn nội bộ đồng thời giúp đỡ họ. Ủy ban chỉ đạo và phối hợp các hoạt động cứu trợ quốc tế của Phong trào trong hoàn cảnh xung đột vũ trang. Đồng thời Ủy ban cũng nỗ lực phòng ngừa các đau khổ bằng cách thúc đẩy và tăng cường Luật Nhân đạo và các nguyên tắc nhân đạo phổ biến. Thành lập từ năm 1863 Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế là nguồn gốc của Phong trào quốc tế Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ.

      Nhiệm vụ của Ủy ban bao gồm:

      • Thăm hỏi tù nhân chiến tranh và dân thường bị giam giữ;

      • Tìm kiếm người mất tích;

      • Chuyển các thông tin thư từ giữa các thành viên của những gia đình bị ly tán trong xung đột;

      • Đoàn tụ những gia đình bị ly tán;

      • Cung cấp thực phẩm nước và giúp đỡ y tế cho dân thường không có những thứ thiết yếu đó;

      • Phổ biến Luật Nhân đạo Quốc tế;

      • Giám sát việc thực thi Luật;

      • Theo dõi sự vi phạm và góp phần phát triển Luật Nhân đạo.

      Vai trò đặc biệt của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế được các quốc gia ủy nhiệm qua các công cụ của Luật Nhân đạo. Tuy nhiên trong khi duy trì sự liên hệ thường xuyên với các Chính phủ Ủy ban vẫn luôn luôn nhấn mạnh vào tính độc lập của mình. Chỉ có dựa vào tính độc lập với mọi chính phủ hoặc các nhà chức trách thì Ủy ban mới phục vụ được quyền lợi chân thực của các nạn nhân trong xung đột vũ trang nó là trung tâm sứ mệnh của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế.

      Vị trí pháp lý

      Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế là một tổ chức nhân đạo trung lập vô tư và độc lập. Nhiệm vụ bảo vệ và giúp đỡ những nạn nhân trong xung đột vũ trang của Ủy ban đã được các Chính phủ công nhận qua bốn Công ước Geneva năm 1949 và hai Nghị định thư bổ sung năm 1977 là những văn kiện kế tục xứng đáng của Công ước Geneva đầu tiên năm 1864.

      Nhiệm vụ và vị trí pháp lý của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế làm cho Ủy ban khác các tổ chức liên chính phủ của Liên Hợp quốc cũng như các tổ chức phi chính phủ. Tại đa số những nước Ủy ban làm việc đều có sự thỏa thuận cơ bản giữa Ủy ban với Chính phủ nước đó. Trên cơ sở những thỏa thuận như vậy theo tinh thần luật quốc tế Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế được hưởng những ưu tiên và miễn trừ dành cho các tổ chức liên chính phủ như quyền bất khả xâm phạm đối với cơ sở tài liệu hồ sơ của Ủy ban.

      Phân công trách nhiệm

      Điều lệ của Phong trào CTĐ-TLLĐ Quốc tế quy định sự liên quan giữa các tổ chức CTĐ-TLLĐ. Trách nhiệm của mỗi thành phần của Phong trào đã được làm rõ và chỉnh lý lại trong bản Thỏa ước Seville được Hội đồng đại biểu thông qua năm 1997. Theo bản Thỏa ước Seville thì Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế có vai trò chỉ đạo các hoạt động của Phong trào trong khi có xung đột vũ trang hoặc bạo lực trong nước kể cả giúp đỡ những người phải di tản.

      Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế có trách nhiệm kiểm tra việc các Hội CTĐ-TLLĐ quốc gia có đảm bảo các tiêu chuẩn để trở thành hội viên của Phong trào và có khả năng hoạt động phù hợp với những nguyên tắc cơ bản. Nếu có thì Ủy ban chính thức công nhận và Hội quốc gia có thể xin gia nhập Hiệp Hội. Đơn xin gia nhập sẽ được cả hai tổ chức là Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế và Hiệp Hội cùng xét duyệt.

      Cải thiện các điều kiện sinh sống của những người yếu thế: đó là mục tiêu của chiến lược được xây dựng năm 1999 tại Hội nghị Quốc tế Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ lần thứ 27.

      Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế là cơ quan sáng lập ra Phong trào. Ngoài các hoạt động bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân chiến tranh Ủy ban còn là cơ quan vận động và giám hộ việc phổ biến Luật Nhân đạo Quốc tế và theo dõi việc thực hiện những Nguyên tắc cơ bản. Ủy ban cùng hợp tác với Hiệp Hội tổ chức các Hội nghị theo điều lệ của Phong trào.

      More...

      PHONG TRÀO CHỮ THẬP ĐỎ - TRĂNG LƯỠI LIỀM ĐỎ QUỐC TẾ

      By Hội Chữ thập đỏ Tây Ninh


      I. Lịch sử II. Thành phần - Nhiệm vụ III. Nguyên tắc hoạt động

       

      I/ LỊCH SỬ:

      Ngày 24 tháng 6 năm 1859 ở Solferino một thành phố miền Bắc nước ý một cuộc chiến khốc liệt diễn trong vài giờ đồng hồ giữa lực lượng quân đội liên minh của Pháp và ý chống lại quân chiếm đóng áo đã để lại 40.000 người chết và bị thương. Quân y của các bên tham chiến không đủ lực lượng để giải quyết tình trạng quá nhiều người bị thương.

      Cảnh tượng trên đã khiến một thương gia Thụy Sĩ tên là Jean Henry Dunant kinh hoàng khi vô tình được chứng kiến. Ông đã kêu gọi dân chúng địa phương giúp đỡ người bị thương bất kể họ là người của bên nào.

      Khi trở về Thụy Sĩ Henry Dunant không thể nào quên những điều rùng rợn mà ông đã được chứng kiến. Ông đã viết lại những điều này trong một cuốn sách có tên gọi Ký ức về Solferino. Cuốn sách được hoàn thành vào năm 1862. Trong nội dung cuốn sách Dunant đưa ra 2 ý tưởng:

      a) Thành lập tại mỗi quốc gia một Hội Cứu trợ bao gồm những người tình nguyện những người danh tiếng những chính khách có tên tuổi để chăm sóc những người bị thương khi có chiến tranh.

      b) Vận động một thoả thuận quốc tế bảo vệ những binh lính bị thương trên chiến trường và những người chăm sóc họ.

      Hăng-ry Đuy-năng - người sáng lập Phong trào CTĐ

      Henry Dunant đã in cuốn sách bằng tiền riêng của mình và gửi tới các vị quốc vương ở châu âu tới các nhà chính trị sĩ quan quân đội những nhà hảo tâm và bạn bè. Điều này đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt của nhân dân châu Âu những người không có chút khái niệm nào về thực tế khốc liệt của chiến tranh đã bị kinh hoàng khi đọc những trang viết về Solferino.

      Ông Gustave Moynier một luật sư và vào thời gian đó là Chủ tịch của Hội Cứu trợ Cộng đồng Geneva đã cảm động sâu sắc khi đọc cuốn "Ký ức về Solfferino". Ngay sau đó ông đã đề nghị Dunant nên nhóm họp các thành viên của Hội để bàn bạc về đề xuất của mình. Tại cuộc họp một Uỷ ban Năm Người được thành lập gồm Dunant và Moynier Tướng Guillaume Henri Dufour Tiến sĩ Louis Appia và Tiến sĩ Theodore Maunoir tất cả đều là công dân Thụy Sĩ. Kỳ họp lần thứ nhất của Uỷ ban này vào ngày 17 tháng 2 năm 1863 đã thông qua tên gọi "Uỷ ban quốc tế cứu trợ những người bị thương".

      Trong thời gian sau đó "Uỷ ban năm người" này đã xúc tiến tổ chức một Hội nghị quốc tế vào tháng 10 năm 1863 tại Geneva tập hợp đại diện của 16 quốc gia. Hội nghị đã thông qua dấu hiệu phân biệt - một chữ thập đỏ trên nền trắng - để nhận biết và bảo vệ những người giúp đỡ những binh sĩ bị thương trên chiến trường.

      Năm 1875 "Uỷ ban quốc tế cứu trợ những người bị thương" đổi tên thành ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế - là tổ chức khởi xướng Phong trào Chữ thập đỏ Quốc tế. Để ghi nhớ công lao của người sáng lập Phong trào ngày sinh của Henry Dunant 8/5 đã được lấy làm Ngày Quốc tế Chữ thập đỏ.

      II/ THÀNH PHẦN - NHIỆM VỤ:

      Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế gồm 3 thành phần:

      + Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế: thành lập năm 1863 là thành viên sáng lập Phong trào CTĐ-TLLĐ quốc tế. Ngoài các hoạt động bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân chiến tranh ủy ban còn là cơ quan vận động và giám hộ việc phổ biến Luật Nhân đạo Quốc tế và theo dõi việc thực hiện những nguyên tắc cơ bản. ủy ban cùng hợp tác với Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế tổ chức các hội nghị theo điều lệ của Phong trào.

      Các hoạt động cụ thể của ủy Ban CTĐ Quốc tế có thể tham khảo tại website: http://www.icrc.org/

      + Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế: thành lập năm 1919 hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Phong trào tạo điều kiện và động viên các Hội quốc gia cải thiện tình trạng cho những người có khó khăn nhất. Hiệp Hội chỉ đạo và phối hợp việc cứu trợ quốc tế cho các nạn nhân do thiên tai và thảm họa công nghiệp cho người tỵ nạn và cấp cứu y tế. Hiệp Hội là đại diện cho các Hội quốc gia trên trường quốc tế huy động sự hợp tác giữa các Hội quốc gia tăng cường năng lực cho các Hội quốc gia và thực hiện các chương trình phòng chống thiên tai chăm sóc sức khỏe và cứu trợ xã hội.

      Các hoạt động của Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ quốc tế có thể tham khảo tại website: http://www.ifrc.org/

      + Các Hội CTĐ/TLLĐ quốc gia: hoạt động theo nội dung và nguyên tắc của Phong trào. Các Hội quốc gia hỗ trợ cho các chính phủ trong các hoạt động nhân đạo cụ thể là các chương trình phòng chống thiên tai chăm sóc sức khỏe và cứu trợ xã hội. Trong thời gian có chiến tranh các Hội quốc gia giúp đỡ nạn nhân dân thường và nếu có thể hỗ trợ các đơn vị quân y. Tính đến hết năm 2003 đã có 181 Hội CTĐ TLLĐ các nước là thành viên của Phong trào.

      Ngày 5/6/1957 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi Công hàm phê chuẩn cho Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ tuyên bố gia nhập 4 Công ước Giơ-ne-vơ về việc bảo hộ nạn nhân chiến tranh để Hội Chữ thập đỏ Việt Nam có điều kiện gia nhập Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế mở rộng phạm vi hoạt động.

      Ngày 4/11/1957 tại cuộc họp Đại hội đồng Hiệp Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ họp ở Niu-ðê-li (ấn Độ) Hội Hồng thập tự Việt Nam chính thức được công nhận là thành viên của Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.

      Hội Chữ thập đỏ Việt Nam có trách nhiệm: Thực hiện tốt các hoạt động nhân đạo trong nước và thực hiện các Nghị quyết của Phong trào CTĐ-TLLĐ Quốc tế.

      Hoạt động của các các Hội CTĐ/TLLĐ quốc gia có thể tham khảo tại website: http://www.redcross.int/

      Sơ đồ phong trào

        

      III/ CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA PHONG TRÀO:

      - Nhân đạo: Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ với lòng mong muốn được giúp đỡ không phân biệt những người bị thương trên chiến trường sẽ nỗ lực với khả năng quốc gia và quốc tế của mình ngăn ngừa và giảm bớt đau thương nhân loại bất cứ ở nơi nào.

      Mục đích của Phong trào là để bảo vệ tính mạng và sức khỏe cho con người và đảm bảo tôn trọng nhân phẩm.

      Phong trào giúp cho sự hiểu biết lẫn nhau sự hợp tác hữu nghị hòa bình bền vững giữa các dân tộc.

      - Vô tư: Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế không phân biệt dân tộc giống nòi tôn giáo tầng lớp và quan điểm chính trị. Phong trào nỗ lực để giảm nhẹ nỗi đau của mọi cá nhân và dành ưu tiên cho những người thiệt thòi nhất.

      - Trung lập: Để giữ niềm tin của nhân dân Phong trào không đứng về phe nào trong các cuộc xung đột hoặc không tham dự vào các vấn đề mâu thuẫn về chính trị chủng tộc tôn giáo hoặc lý tưởng.

      - Độc lập: Phong trào hoàn toàn độc lập. Các Hội quốc gia trong khi trợ giúp cho chính phủ của mình về các hoạt động nhân dạo vừa tuân theo luật pháp của Nhà nước mình vừa phải duy trì quyền tự chủ để có thể hoạt động phù hợp với những nguyên tắc của Phong trào.

      - Tự nguyện: Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ là tổ chức nhân đạo hoạt động tự nguyện không dùng bất kỳ hình thức xúi giục ép buộc nào để đạt được mục đích.

      - Thống nhất: ở mỗi nước chỉ có duy nhất một Hội Chữ thập đỏ hoặc Trăng lưỡi liềm đỏ. Hội nhất thiết phải mở rộng đối với tất cả mọi người. Hội phải tiến hành sức mạnh nhân đạo của trên phạm vi toàn lãnh thổ.

      - Toàn cầu: Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế là tổ chức rộng rãi có phạm vi toàn cầu trong đó tất cả các Hội quốc gia đều bình đẳng chia sẻ trách nhiệm và nhiệm vụ trong việc giúp đỡ lẫn nhau.

      4 giải thưởng Nobel vì hòa bình Dành cho sự nghiệp nhân đạo

      Nhà tư bản công nghiệp Thụy Điển Alfred Nobel mất năm 1896. Trước khi vĩnh biệt thế giới này ông có một nguyện vọng dành một phần ngân quỹ của mình để tặng thưởng cho những người có nhiều cống hiến trong hoạt động nhận đạo.

      • Năm 1901 Giải thưởng Nobel Vì hòa bình đầu tiên được trao cho Hăng-ry Đuy-năng - người sáng lập CTĐ người đã hiến cả đời mình cho sự nghiệp nhân đạo. Mặc dù sống trong cảnh nghèo nàn của một nhà tế bần ở Heiden (bang Appenzell Thụy Sĩ) nhưng H. Đuy-năng đã dành số tiền thưởng đó đóng góp cho sự nghiệp nhân đạo.

      • Năm 1917 và năm 1944 ủy ban CTĐ quốc tế được nhận 2 giải thưởng Nobel và số tiền này cũng được sử dụng cho các hoạt động nhân đạo trong suốt 2 cuộc chiến tranh thế giới.

      • Giải Nobel thứ 4 được trao cho ủy ban CTĐ quốc tế và Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ quốc tế vào năm 1963 nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày ra đời phong trào CTĐ-TLLĐ.

      More...